CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VĂN HỌC 1. Khái niệm lên quan 1. Biện pháp "Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thì biện pháp có nghĩa là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. Biện pháp là đưa ra những cách làm, cách giải quyết một vấn đề nào đó để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ của vấn đề đó đưa ra, nhưng để thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ đó thì cần phải có những biện pháp phù hợp để giải quyết ván đề cần giải quyết một cách có hiệu quả.
Tĩnh ích cục "Theo từ điển Tiếng Việt, tính tích cực gồm 3 nghĩa: - Một là có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực. - Hai là có tính chủ động, có nhưng hoạt động nhằm tạo ra những biến đổi theo phương hướng phát triển. - Ba là hăng hái nhiệt tình với nhiệm vụ với công việc. Tính tích cực theo quan điểm duy vật biện chứng: C.LLênin: “ Tính tích cực có nguồn góc từ yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, trong đó yếu tố bên trong giữ vai trò quyết định.
Tính tích cực chính là thái độ cải tạo và biến đổi khách thể của chủ thể, nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra thế giới hiện thực khách quan, biến đổi và cải tạo nó”. Các nhà tâm lý giáo đục học lại xem xét tính tích cực ở những khía cạnh khác nhau như: - Tính tích cực gắn liền với hành động, P.Ganpêrin cho rằng: “ Tính tích cực được thể hiện trong các mức độ lĩnh hội khác nhau và các mức độ ấy chính là chỉ số đo sự phát triển tính tích cực của chủ thể". - Tính tích cực chính là chủ động của chủ thể ( hành động ý chí), tính tích cực thực hiện chức năng chỉ báo hoạt động của con người. - Tính tích cực được gắn với một hoạt động cụ thể, theo A.A Liublinxkaia thi: “ Tính tích cực chỉ sự sẵn sàng hoạt động và con người tích cực có ý nghĩa là con người đang ở trạng thái hoạt động.
Nhu cầu có mối quan hệ chặt chế với tính tích cực, nó chính là nguồn gốc, là động lực của tính tích cực”. - Xem xét tính tích cực trong mối quan hệ chặt chế giữa trạng thái hoạt động của con người với thái độ cải tạo thế giới của họ.Minle cho rằng: không nên xem xét tính tích cực chỉ là trạng thái hoạt động cũng như không nên tách rời mặt bên trong của tính tích cực với mặt bên ngoài của nó hoặc là sự phát triển tính tích cực chỉ xem xét bằng các đặc trưng số lượng và chất lượng của con người. - Tính tích cực còn thể hiện ở sự nổ lực, sự quyết tâm của chủ thể trong quá trình tương tác với đối tượng để đạt được mục đích đã đặt ra với chất lượng cao. Tinh tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sóng xã hội.
Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động, bằng lao động, sản xuất ra những của cải vật chất cần cho sự tôn tại của xã hội, sáng tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại. Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội đã là củng có một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phan phat triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo đục. Tính sắng tạo Chu Quang Tiềm, giáo sư đại học Bắc Kinh, sách Tâm lý văn nghệ định nghĩa sáng tạo là căn cứ vàoý tưởng có sẵn làm tài liệu cất xén gạt bỏ chọn lọc tổng hợp đề tạo thành hình tượng mới.
Tính sáng fạo còn được định nghĩa là mộtý tưởng mới, phù hợp với thời đại và không gian sinh ra nó, và ý tưởng đó mang lại giá trị. Sáng tạo là say mê nghiên cứu, tim tòi dé tao ra những giá trị mới về vật chất, tỉnh thần hoặc tim ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ thuộc vào những cái đã có.4 Phát huy tính tích cực, sảng tạo cũa trễ trong hoạt động lầm quen văn học Phát huy tính tích cực, sáng tao của trẻ là nguyên tắc cơ bản quyết định hiệu quả dạy học. Không có sự vận động của bản thân trẻ thì mọi sự hoạt động từ phía cô giáo đều trở thành áp đặt. Những tim năng của trẻ em được phát huy thực sự thì việc lĩnh hội những kiến thức, thể nghiệm mình trước tác phẩm, hứng thú học tập mới thực sự có được và hiệu quả truyền đạt kiến thức và lĩnh hội kiến thức, những kỹ năng, kỹ xảo mới được hình thành bên vững.
Đặc điểm tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ 5-6 tuổi 1. Đặc điểm chung Văn học có nhiều chức năng khác nhau, ta có thể kể đến ba chức năng chủ yếu của văn học là: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thấm mỹ. Vì vậy, mỗi tác phẩm văn học chân chính đều mang đến cho người đọc những bài học bổ ích và cần thiết về tri thức, cách nhìn nhận đánh giá con người và cuộc đời, những cảm xúc thâm mỹ lành mạnh. Đối với trẻ do đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm ngôn ngữ của lứa tuổi, việc cho trẻ làm quen tác phẩm văn học vừa sức không những có ý nghĩa to lớn trong việc mở rộng sự hiểu biết về thế giới xung quanh, giáo đục đạo đức, thâm mỹ mà còn góp phân hoàn thiện các quá trình tâm lý và phát triển toàn điện nhân cách cho trẻ thơ.
Trẻ trước tuổi đến trường phổ thông có nhu cầu và khả năng hiểu được tác phẩm ngắn gọn, nội dung không phức tạp, kết cầu ngôn ngữ dễ hiểu. Đặc điểm tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ như sau: + Trẻ lúc này chưa biết đọc chữ, trẻ tiếp nhận tác phẩm văn học qua trung gian là giáo viên (ở trường) và người lớn (ở nhà). Tác phẩm văn học là một văn bản nghệ thuật ngôn ngữ, một công trình nghệ thuật nên việc cảm thụ tác phẩm đối với các trẻ còn gặp nhiều khó khăn. Với đặc điểm này giáo viên phải tập trung đọc tác phẩm trước lớp, kể lại có nghệ thuật để tác động và phát triển khả năng cảm thụ tác phẩm văn học của trẻ.
Việc đọc của cô phải mạch lạc, điến cảm, phân biệt và nhắn mạnh sắc thái biểu cảm ở những chỗ trọng tâm tạo điều kiện cho trẻ có khả năng nhìn ra những hình ảnh sinh động rực rỡ của cuộc sống. + Tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ mang đậm màu sắc xúc cảm. Tuổi mẫu giáo trẻ dễ xúc cảm, đó là sự phản ứng tự nhiên ở tình cảm của các trẻ. Nó biểu thị trạng thái chưa ổn định, đễ dao động trước những tác động bên ngoài, trẻ đễ xúc động nên luôn luôn quan tâm đến thế giới xung quanh.
Những điều truyền thụ cho trẻ được củng cố bằng cảm xúc trước cuộc sống sẽ tạo nên thái độ tình cảm và cao hơn là tình cảm thâm mỹ của trẻ để xác định dần phong cách sống cho trẻ. Trẻ hoá thân vào nhân vật và sự vật hiện tượng xung quanh cuộc sống con người, các trẻ cho rằng thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học cũng là hiện thực ngoài đời, với cách nhìn ngây thơ và giản đơn. Việc này giúp làm nỗi bật tâm trạng chủ đạo và cảm xúc trung tâm khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. + Tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ ít bị ràng buộc bởi lí trí và kinh nghiệm mà chứa đựng khả năng tưởng tượng mạnh mẽ.
Khi tiếp xúc với văn học trẻ mẫu giáo thường dùng trí tưởng tượng phối hợp (hình đung bên ngoài với cảm nghĩ, xúc động bên trong) các trẻ không chỉ gắn tình cảm và xúc động của con người cho sự kiện hiện tượng mà còn sống với nó. Đó là đặc tính “nhân hoá” khi trẻ tiếp nhận tác phẩm văn học. Trẻ hấp thụ những ấn tượng từ thực tại, cải biến chúng và tạo ra một cách hiểu, cách cảm thụ thực tại đây đủ hơn. + Trẻ tiếp nhận ngây thơ và triệt đề.
Những câu hỏi của trẻ chứng tỏ các trẻ muốn đi đến tận cùng và thường dồn người đối thoại đến chân tường “trẻ khao khát biết tất cả nhưng chấp nhận sự giải thích không đầy đủ khoa học”. Điều đó phản ánh quan niệm đơn sơ ngây thơ của trẻ trong lĩnh hội thế giới và văn học, trong tiếp nhận văn học trẻ thường vận dụng kinh nghiệm trực tiếp và nguyên hợp không phân biệt sự khác nhau giữa chúng. Các trẻ chưa đòi hỏi lý lẽ mà đòi hỏi sự hợp lý, tình cảm trong khuôn khổ hạn hẹp của mình. Khi giải thích với trẻ cần nhất quán, cái gì đã trở thành Kinh nghiệm của trẻ thì có sự sống lâu bền, làm mắt đi lòng tin của trẻ thì khó có thể giúp trẻ tiếp nhận văn học.
Nhất quán và tạo dựng niềm tin là cách thoả mãn khát vọng của trẻ. Đặc điểm cảm thụ tác phẩm văn học 6 tré 5-6 tubi 1. Đặc điểm cảm thụ truyện Trẻ mẫu giáo lớn đã có vốn ngôn ngữ và kinh nghiệm sống phong phú hơn các độ tuổi khác. Khi làm quen với truyện trẻ thể hiện các đặc điểm sau: - Có khả năng hiểu được các sự kiện, các mối quan hệ đa dạng của tác phẩm văn học (quan hệ nhân — quả, quan hệ cư xử.
- Khi đánh giá về nhân vật, trẻ không chỉ chú ý đến lời nói, việc làm cụ thể mà còn chú ý đến nguyên nhân, động cơ sâu xa bên trong của hành động, chú ý đến suy nghĩ tình cảm đa dạng của nhân vật. - Thái độ, tình cảm của trẻ đối với nhân vật cũng được xuất phát từ việc đánh giá các hành vi, lời nói đặc trưng của nhân vật được nêu trong tác phẩm và cũng được bộc lộ mạnh bằng hành động và sự đồng cảm. Tuy nhiên ở độ tuổi này thái độ, tình cảm của trẻ tương đối phức tạp và nhiều khi không theo đúng nội dung tư tưởng của câu chuyện. Bởi vì thái độ tình cảm này nhiều khi còn được dựa trên những yếu tố chủ quan như mong muốn và sở thích cá nhân trẻ, kết quả tiếp thu các bài học giáo dục trong quá trình sống.