Phần mở đầu © Phần nội dung Chương l: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Hệ thống bài tập dạy học bằng phương pháp dạy học phân hóa trong chủ đề “ Phép biến hình” © Phan kết luận ® Tài liệu tham khảo. PHAN NOI DUNG CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN 1.1 Tư tưởng chủ đạo về đạy học phân hóa [ Tr. 256, 7] Dạy học phân hóa xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hóa, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cả các học sinh, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu của cá nhân. ñũi nhọn”, giữa ° với “nâng cao” trong dạy học toán học ở phổ thông cần được tiến hành theo.
các tư tưởng chủ đạo sau: ÿ) Lấy trình độ phát triển chung của học sinh trong lớp làm nền tảng Việc dạy học toán phải lấy trình độ phát triển chung và điều kiện chung của học sinh trong lớp làm nền tảng, phải hướng vào những yêu cầu thật cơ bản. Nội dung và phương pháp dạy học trước hết cần phải phù hợp với trình độ và diều kiện chung này. ii) Sử dụng những biện pháp phân hóa đưa điện học sinh yếu kém lên trình độ chung Cố gắng làm sao để những học sinh yếu kém đạt được những tiền đề cần thiết để có thể hòa vào học tập đồng loạt theo trình độ chung. ii0 Có những nội dung bổ sung và biện pháp phân hóa giúp học sinh khá, giỏi đạt được những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bản Dạy học phân hóa có thể được thực hiện theo hai hướng : ~ Phân hóa nội tại (còn gọi là phân hóa trong).
tức là dùng những biện pháp phân hóa thích hợp trong một lớp học thống nhất với một kế hoạch học tập, cùng một chương trình và sách giáo khoa. ~ Phân hóa về tổ chức (còn gọi là phân hóa ngoài), tức là hình thành những nhóm ngoại khóa, lớp chuyên, giáo trình tự chọn v. Trong bài khóa luận này chúng tôi chỉ nghiên cứu theo hướng phân hóa nội tại.2 Dạy học phân hóa nội tại 1.1 Quan điểm chung của đạy học phân hóa nội tại [Tr.257,7| Việc dạy học phân hóa nội tại xuất phát từ những quan điểm sau: đối với học sinh vừa có sự giống nhau về những đặc điểm cơ bản của người lao động trong cùng một xã hội, vừa có sự khác nhau về trình độ phát triển, về khuynh hướng, tải năng. ® Học sinh một lớp học vừa có sự giống nhau, vừa có sự khác nhau vẻ trình độ phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản.
Chính vì sự giống nhau, ta mới có thể dạy học trong một lớp học thống nhất. « Những diém khác nhau giữa các học sinh có thể có tác động khác nhau đối quá trình dạy học: một số có tác động tích cực, một số có tác động ngăn trở và một số hầu như không ảnh hưởng gì tới quá trình dạy học. «Sự giống nhau và khác nhau về yêu cầu xã và về trình độ phát triển nhân cách từng người đòi hỏi một quá trình dạy học thống nhất cùng với những biện pháp phân hóa nội tại. s Sự hiểu biết của thầy giáo về từng học sinh là một điều kiện thiết yếu bảo đảm hiệu quả dạy học phân hóa.
+ Dạy học phân hóa cần được xây dựng thành một kế hoạch lâu dài, có hệ thống, có mục tiêu.2 Những biện pháp dạy học phân hóa [Tr. 258,7] ( Đối xử cá biệt ngay trong những pha dạy học đồng loạt Theo tư tưởng chủ đạo đã nói ở trên, trong dạy học cần lấy trình độ phát triển chung của học sinh trong lớp làm nền tảng, do đó những pha cơ bản là những pha dạy học đồng loạt. Tuy nhiên, ngay trong những pha này, thông qua quan sát, vấn đáp và kiểm tra, người thầy giáo cần phải phát hiện sự sai khác giữa các học sinh về tình trạng lĩnh hội và trình độ phát triển, từ đó có những biện pháp phân hóa nhẹ, chẳng hạn như: «Lôi cuốn đông đảo học sinh có trình độ khác nhau vào quá trình dạy học bằng cách giao nhiệm vụ phù hợp với từng loại đối tượng, khuyến khích học sinh yếu kém khi họ tỏ ý muốn trả lời câu hỏi, tận dụng những tri thức và kĩ năng riêng biệt của từng. s Phân hóa việc giúp dỡ, kiểm tra và đánh giá học sinh.
(ii) Tổ chức những pha phân hóa trên lớp Ở những lúc nhất định trong quá trình dạy học có thể thực hiện những pha phân tô chức cho học sinh hoạt động một cách phân hóa. Biện pháp này được 6 áp dụng khi trình độ học sinh có sự sai khác lớn, có nguy cơ yêu cầu quá cao hoặc quá thấp nếu cứ dạy học đồng loạt. Ở những pha này, thầy giáo giao cho học sinh những nhiệm vụ phân hóa (thường thể hiện thành những bài tập phân hóa), diều khiển quá trình giải những bài tập này một cách phân hóa và tạo điều kiện giao lưu gây tác động qua lại trong những người học, được minh họa ở sơ dé sau: “Tác động qua lại giữa các Ra‘a baibài tập tập phân phân hó;hóa. Hoạt động của học trò: ® j bậc Phân - i.
“Thảo luậnan trong trong lớlop ©_ Số lượng phân "6 HN, ©— Học theo cập hóa ® - Học theo nhóm Điều khiển phân hóa của thầy giáo + Phân hóa mức độ độc lập hoạt động của trỏ « - Quan tâm cá biệt Những khả năng phân hóa biểu thị trong sơ đồ trên còn có thể được tổ hợp với nhau và như vậy chúng khá đa dạng. Chúng có thể được áp dụng ở tất cả các chức năng diều hành quá trình dạy học. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu về lí luận dạy học môn toán cho thấy rằng dạy học phân hóa ở các chức năng củng cố và đảm bảo trình độ xuất phát là thuận lợi nhất. Sau đây là một số giải thích về các khả năng phân hóa trong sơ đồ trên: © Ra bai tập phân hóa Ý đồ ra bải tập phân hóa là để những học sinh khác nhau có thể tiến hành những hoạt động khác nhau phù hợp với trình độ khác nhau của họ.
Có thể phân hóa về yêu cầu bằng cách sử dụng mạch bài tập phân bậc, giao cho học sinh giỏi những bài tập có. hoạt động ở bậc cao hơn so với các đối tượng học sinh khác. Hoặc ngay trong một bài tập, ta có thể tiến hành dạy học phân hóa nếu bài tập đó đảm bảo yêu cầu hoạt động cho ca ba nhóm đối tượng học sinh: phụ đạo lắp lỗ hỗng cho học sinh yếu kém, trang bị kiến thức chuẩn cho học sinh. trung bình và nâng cao kiến thức cho học sinh khá, giỏi.
Để có được bài tập đảm bảo yêu cầu trên, giáo viên phải nắm chắc kiến thức trọng tâm của từng bài và đầu tư nghiên cứu cho soạn bài. Chúng ta có thể phân hóa về mặt số lượng. Để có được kiến thức, rèn luyện một kĩ năng nảo đó, số học sinh yếu kém cần nhiều bài tập cùng loại hơn số học sinh khác. Những học sinh đã hoàn thành tốt sẽ nhận thêm bai tập khác để đào sâu và nâng cao.
© _ Diều khiển phân hóa của thầy Trong việc diều khiển học sinh giải bài tập, thầy giáo có thể định ra yêu cầu khác nhau về mức độ độc lập của học sinh, hướng dẫn nhiều hơn cho học sinh này, ít hoặc không gợi ý cho học sinh khác, tùy theo khả năng và trình độ của họ. Giáo viên có thể áp dụng dạy học theo nhóm đối tượng học sinh để việc dạy phân hóa có hiệu quả. Chính nhờ sự phân hóa mà giáo viên có thể thấy rõ được tiến bộ của từng học sinh để tự điều chỉnh cách dạy của mình cho phù hợp. Đồng thời thầy giáo cần quan tâm cá biệt: động viên học sinh nào đó có phần thiếu tự tin, lưu ý học sinh này thường hay tính toán nhằm lẫn, nhắc nhở học sinh kia dừng hắp tấp, chủ quan, thiếu sự suy nghĩ chín chắn, lôi kéo những học sinh có nhịp độ nhận thức chậm theo kịp tiến trình bài học.
® _ Tác động qua lại của những người học Trong quá trình điều khiển học sinh học tập nói chung và giải bài tập nói riêng, cần phát huy những tác động qua lại giữa những người học bằng các hình thức học tập khuyến khích sự giao lưu giữa họ như thảo luận trong lớp, học theo cặp và học theo nhóm. Với những hình thức nảy có thể tận dụng chỗ mạnh của một số học sinh này đẻ điều chỉnh nhận thức cho những học sinh khác. Tác dụng điều chỉnh nảy có một số ưu điểm so với tác dụng của thầy giáo: có tính thuyết phục, nêu gương, không có tính áp đặt. Trong khi chỉ đạo học tập theo cặp hoặc theo nhóm, người thầy giáo cần chú ý: - Cần tập đượt cho học sinh cách thức làm việc tập thể có giao lưu ý kiến, có phân công phân nhiệm, có người điều khiển, chịu trách nhiêm; cần gợi động cơ cho học sinh đối với cách làm việc này bằng cách cho họ thấy rõ đây cũng là cách thức làm việc thường diễn ra trong thực tế.
- Cần thay đổi vai trò người thực hiện và người kiểm tra, thay đổi phân công phân nhiệm để tập cho mỗi người có nhiều khả năng khác nhau, có thể hoàn thành nhiều nhiệm vụ khác nhau. - Cần tạo cho mọi thành viên trong cặp hoặc trong nhóm có ý thức và thói quen tự kiểm tra và rút kinh nghiệm trong hoạt động. (ii) Phân hóa bài tập về nhà Nhu ở trên lớp, những bài tập về nhà cũng có nhiều khả năng phân hóa. Trong việc này giáo viên cần lưu ý: « Phân hóa về số lượng bài tập cùng loại phủ hợp với từng loại đối tượng để cùng đạt một yêu cầu.
© Phân hóa về nội dung bài tập để tránh đòi hỏi quá cao đối với học sinh yếu kém và quá thấp đối với học sinh khá giỏi. + Phân hóa yêu cầu về mặt tính độc lập: bài tập cho diện yếu kém chứa nhiều yếu tố dẫn dắt hơn là bài tập cho diện khá giỏi. ® Ra riêng những bài tập nhằm đâm bảo trình độ xuất phát cho những học sinh yếu kém để chuẩn bị cho bài học sau. ® Ra riêng những bài tập nâng cao cho hoc sinh khá giỏi.3 Phân bậc hoạt động trong dạy học môn toán Nội dung tư tưởng chủ đạo: Phân bậc hoạt động làm một căn cứ cho việc điều khiển quá trình dạy học.