Chương 1:Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại chỉ nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại chỉ nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam Trang 2 Phần 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG 1.
CO SO LY LUAN VE QUAN TRI RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOAT DONG CUA NGAN HANG THUONG MAL 1. Các vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Khái niệm hoạt động tín dụng. Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hang, một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, một bên là các chủ thể còn lại của nền kinh tế.
‘Tuy nhiên, quan niệm phô biến về tín dụng ngân hàng. là: Tín dụng ngân hàng được hiểu là việc cho vay của NHTM với các chủ thể của nên kinh tế. Theo luật tổ chức tin dụng năm 1998 của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghia Việt Nam thì: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho. vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” và "Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng” 1.
Vai trò của hoạt động tín dụng đối với ngân hàng thương mại. Vai trò của hoạt động tín dụng đối với nền kinh tế. + Tín dụng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vối. điều hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế.
Với chức năng là trung gian tài chính, các Ngân hàng tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và cho vay đối với các đối tượng có nhu cầu điều đó được thể hiện rõ trong hoạt động tin dụng trung và dài hạn của Ngân hàng, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung hoạt động một cách liền mạch không ngắt quảng và là một kênh truyền dẫn vốn có hiệu quả. +# Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong tổ chức điều hoà lưu. thông tiền tệ. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ của mình, các ngân hàng đã huy động và tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi, đồng thời đã rút ra khỏi lưu thông một bộ phận tiền tệ không cần thiết (không cân đối với quan hệ tiền-hàng, gây lạm phát Trang 3 nên kinh tế).
Mặt khác, dựa vào quy luật của lưu thông tiền tệ trong quá trình cân đối nguồn vốn tín dụng với nhu cầu vay vốn, NHNN thực hiện đưa tiền vào lưu thông. Do đó, sự vận động của vốn tín dụng dựa trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế để tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ. s* Tín dụng có vai trỏ quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn. Hoạt động tín dụng ngân hàng là tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi quy về một môi để cho các thành phần kinh tế vay.
Tuy nhiên, việc cắp tín dụng không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà phải tập trung vào những chủ thể kinh tế có triển vọng phát triển sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực kinh tế cần được ưu tiên vì chính những ngành kinh tế đó sẽ thúc đẩy ngành kinh tế khác phát triển, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tín dụng tạo diều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại. Trong điều kiện hiện nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với thị trường thế giới, nền kinh tế đóng trước ây được nhường bước cho nền kinh tế mở phát triển. Tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau dưới các hình thức: tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay viện trợ.
Vai trò của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp. s* Tín dụng là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Đó là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng thị trường hoạt động của mình và nếu vậy phải mở rộng sản xuất.
Mỡ rộng sản xuất là hoạt động lâu dài và cần có nguồn vốn dài hạn. Nhung không phải doanh nghiệp nào cũng đủ vốn đẻ tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh. Do vậy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp rất cần thiết. Trang 4 s% Tín dụng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thay déi cơ cấu sản xuất, Điều đó giúp doanh nghiệp thích nghỉ với tình hình thị trường cũng như đặc thù của chính doanh nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp hiện nay, nhu cầu vốn xây dựng cơ bản là rất lớn trong lúc các nhà kinh doanh chưa tích luỹ được nhiều, chưa có nhiều thời gian để tích luỹ vốn, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn hạn chế.
Việc vay vốn ở ngân hàng thương mại sẽ làm cho doanh nghiệp có thể tự chủ và có khả năng kiểm soát độc lập được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình mà không phải phân chia quyển kiểm soát với các cổ đông nếu huy động vốn bằng phát hành cỗ phiếu. s Tín dụng còn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc thoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh, các doanh nghiệp có thể nhanh chóng vay vốn của Ngân hàng để mở rộng sản xuất kinh doanh, gia tăng sản lượng để chiếm lĩnh thị trường. Việc trả nợ cũng được xây dựng theo một sự phân chia ổn định và hợp lý do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ một cách dé dang hon.
Tín dụng góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp. Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng. vốn có hiệu quả. Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng tín dụng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chỉ phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế.
Vai trò của hoạt động tín dụng đối với hoạt động của ngân hàng Thương mại. s# Tín dụng mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng. “Trang 5 Tín dụng đặt biệt là in dụng trung dài hạn cả về số lượng và chất lượng là hoạt động mang tính chiến lược của các ngân hàng thương mại. Do vậy tín dụng mang lại thu nhập chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của Ngân hàng Thương mại từ trước đến nay.
‹* - Tạo điều kiện để Ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình trong nền kinh tế. Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là ngân hàng đang tạo. ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai. Tín dụng là công cụ cạnh tranh hiệu quả của Ngân hàng nhằm thu hút khách hàng về phía mình.
Khi có được mối quan hệ, Ngân hàng có điều kiện lôi kéo khách hàng sử dụng các dịch vụ khác do mình cung. cấp + Tín dụng còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn vốn huy động còn dư thừa tại mỗi ngân hàng thương mại. Nếu không cấp tín dụng cho nền kinh tế thì nguồn vốn mà NH huy động được sẽ trở nên dư thừa. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng tín dung dé gi quyết vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăng cường khả năng cạnh tranh với các Ngân hàng khác.
Rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại.1, Khái niệm rủi ro tín dụng Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tải sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn — có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ han (Bank Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107). Còn theo Henie Van Greuning. Sonja Brajovic Bratanovic: RUi ro tin dụng được định nghĩa là nguy cơ mị người đi vay không thể chỉ trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ân định trong hợp đồng tín dụng.
đây là thuộc Trang 6 tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chỉ trả bị trì hoãn, hoặc tôi tệ hơn là không chỉ trả được toàn bộ. điều này gây ra sự có đối với đồng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (The World Bank, 1997). Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng đẻ xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thắt trong hoạt động ngân hàng của tô chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Phân loại rủi ro tín dụng. Không thu được lãi đúng hạn. Cấp độ thấp nhất khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó Ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng muốn quyt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng.
Không thu được vốn đúng hạn. Khi không thu được vốn đúng hạn tình hình đường như nghiêm trọng hơn, một phần do một lượng vốn vay lớn bị mất. Khi đó, ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang mục nợ quá hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng.