chương 1 đưa ra cấu trúc năm chương của khóa luận và nêu rõ những điểm quan trọng của mỗi chương. 7 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Khái niệm nợ xấu ngân hàng Ngân hàng là một thực thể kinh doanh đặc biệt, thực hiện kinh doanh vốn và dịch vụ tiền tệ của các thực thể trong nền kinh tế. Hoạt động tín dụng có thể được xem như là nguồn doanh thu chính mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên thì lợi nhuận luôn đi kèm theo rủi ro, càng đặc biệt hơn đối khi đây thuộc về lĩnh vực tiền tệ, được xem như một lĩnh vực có độ nhạy cảm rất cao với nền kinh tế.
Trong số các yếu tố tác động với rủi ro của tín dụng có thể kể đến nợ xấu. Theo Ủy ban Basel (2000), rủi ro tín là khả năng người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng không thực hiện các cam kết mà đã thỏa thuận. Còn tại Việt Nam, theo văn bản hợp nhất Quyết định số 22/VBHN-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng, ghi rằng rủi ro tín dụng là khả năng tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ theo các cam kết đã đề ra. Xét về nợ xấu của NHTMCP ở Việt Nam.
Có rất nhiều quan điểm, góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nợ xấu, dựa trên đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia và quan điểm của các tổ chức là khác nhau. Các từ như "non-performing loan (NPL)", "Bad debt" hoặc "Doubtful debt" được gọi là những thuật ngữ chính được sử dụng trong nghiên cứu trước đây dùng để mô tả các khoản nợ khó đòi Fofack (2005). Theo Rose (2009), định nghĩa thuật ngữ "nợ xấu" dùng để chỉ các khoản nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi trên 90 ngày. Khi thảo luận về những khó khăn về nợ xấu, sau đây là một số ý tưởng hoặc tiêu chuẩn về nợ xấu thường được sử dụng: Quan điểm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF về nợ xấu của thế liên quan đến 3 yếu tố: (i) nợ gốc và lãi quá hạn 90 ngày; (ii) sự suy giảm khả năng trả nợ của người vay; và (iii) các khoản nợ được phân loại thành ba nhóm chất lượng tín dụng không đạt tiêu chuẩn, đáng ngờ và có khả năng mất vốn (IMF, 2004).
So với quan điểm của ECB, nợ xấu được đánh giá là một khoản vay được coi là không sinh lời (nợ khó đòi) khi tiền được trả lãi và/hoặc gốc đã quá hạn 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi cho 90 ngày trở lên đã được cơ cấu lại hoặc gia hạn, hoặc các khoản thanh toán chưa quá 90 ngày nhưng có lý do để nghi ngờ rằng việc hoàn trả sẽ không được thực hiện đầy đủ. IMF nhận định nợ xấu 8 ở một góc nhìn khác về thành phần thời gian trễ hạn, bên cạnh kết quả thu hồi nợ của ngân hàng. Đây là quan điểm được chấp nhận và thường dùng nhất trên thế giới. Tóm lại: "Về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi đến hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khoản nợ sẽ thanh toán đầy đủ".
Trong khi đó, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2002) coi một khoản vay là không thể trả được nếu dính phải một hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (1) ngân hàng phát hiện ra rằng người đi vay không có khả năng trả nợ đầy đủ sau khi không thực hiện các biện pháp thu hồi nợ như quản lý tài sản thế chấp; (2) người vay đã quá hạn thanh toán trên 90 ngày. Theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS), các ngân hàng thường coi các khoản cho vay là nợ bị suy giảm hơn là các khoản nợ khó đòi. Nói chung, IAS đánh giá cao khả năng hoàn trả khoản vay, cho dù khoản nợ đã quá hạn dưới 90 ngày hay không. Đối với quan điểm của NHNN Việt Nam về việc trích lập và sử dụng các khoản dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD, thì nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Trong đó phân loại nợ theo Điều 6 chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ (nhóm 3: thời gian quá hạn từ 90 –180 ngày, nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 –360 ngày, nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày). Theo Điều 7 nợ được phân loại chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng (nhóm 3: các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, nhóm 4: các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao, nhóm 5: các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn có khả năng thu hồi, chấp nhận mất vốn). Như vậy, phương pháp xác định nợ xấu được cho là toàn diện và tương đồng với quan niệm của các tổ chức trên thế giới cũng như ở Việt Nam, dựa trên hai biến số từ 90 ngày trở lên và khả năng hoàn vốn của khách hàng. Từ các khung pháp lý được nghiên cứu theo chủ đề này, có thể xác định được nợ xấu dựa theo hai tiêu chí: (i) thời hạn trả nợ quá hạn trên 90 ngày và (ii) tính nghi ngờ trong khả năng thực hiện nghĩa vụ nợ của người đi vay.
Ngân hàng thế giới (Word Bank) đã phân loại nợ như sau: Bảng 1 Phân loại nợ của Ngân hàng thế giới 9 Khoản vay Đặc điểm Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ Đạt tiêu chuẩn Tài sản được đảm bảo thanh khoản bằng tiền hoặc tương đương tiền Quá hạn dưới 90 ngày Khả năng trả nợ liên quan đến: Cần theo dõi Điều kiện kinh tế hay hoàn cảnh tài chính khó khăn Quá hạn dưới 90 ngày Các đặc điểm xấu về tín dụng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ: Dưới tiêu chuẩn Những khoản nợ đã được thỏa thuận lại Quá hạn từ 90 – 180 ngày Không chắc thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện hiện tại: Đáng ngờ Có khả năng thất thoát Quá hạn từ 180 – 360 ngày. Mất vốn Các khoản vay không thu hồi được Quá hạn hơn 360 ngày. Nguồn: (Tác giả tổng hợp từ Word Bank Publications, 2003) Trong nghiên cứu của Lastra, Markose, Sen và Miglionico (2016) cho thấy sự khác biệt trong phân loại nợ ở một số nước G-20. Ở các nước như Hoa Kỳ và Đức có phân loại rõ ràng trong các nhóm nợ.
Các ngân hàng ở Vương quốc Anh không bị ràng buộc bởi bất kỳ hướng dẫn phân loại nợ nào, dù vậy các giám sát viên ngân hàng yêu cầu phải có đầy đủ cơ chế quản lý rủi ro tín dụng, bao gồm cả việc xem xét các khoản vay thường xuyên. Hà Lan cũng không có quy định về phân loại nợ, các nhà quản lý ngân hàng được phép tự phân loại và có giám sát viên ngân hàng theo dõi định kỳ. Hệ thống ở Pháp quy định các điều kiện cho các khoản vay có dấu hiệu xuống cấp, nhưng lại không có tiêu chuẩn rõ ràng nào về cách phân loại chúng. Ở Ý, một mô hình tương tự đã phát sinh, với năm loại nợ và chỉ có những hướng dẫn mơ hồ về cách thực hiện phân loại.
Có thể thấy, hầu hết các quốc gia châu Âu áp đặt một bộ tiêu chuẩn tối thiểu để các khoản vay được xếp vào loại xấu đi, nhưng không có hướng dẫn chính xác về cách thực hiện. Trong khi đó, các quốc gia châu Á (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, …) thường chia các khoản vay thành bốn hoặc năm hạng mục và phân loại chúng tương tự nhau (Phụ lục 4). 10 Theo Viện Tài chính Quốc tế (IIF), việc phân loại nợ dựa trên tình trạng và đặc điểm tài chính của mỗi quốc gia. Bao gồm năm nhóm trong mục 15 "Xử lý nợ xấu trong thống kê kinh tế vĩ mô" (2001).
Nhóm nợ đủ điều kiện; nợ cần chú ý; nợ xấu thuộc 3 nhóm: nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ mất vốn được giải thích trong nghiên cứu của các tác giả Adriaan M. Bloem và Cornelis N. Bảng 2 Cách phân loại nợ Phân loại Đặc điểm Nợ gốc và lãi trong hạn, không có dấu hiệu khó khăn trong việc Nợ đủ tiêu chuẩn thực hiện nghĩa vụ trả nợ và dự báo có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn theo như cam kết Nợ trong tình trạng nếu không có các biện pháp xử lý thì có thể Nợ cần chú ý tăng nguy cơ không thanh toán đầy đủ gốc và lãi Là khoản nợ nghi ngờ về khả năng thanh toán gốc và lãi không đầy đủ theo như cam kết, hoặc gốc và lãi quá hạn 90 ngày, hoặc Nợ dưới tiêu chuẩn tài sản đảm bảo bị giảm giá trị dẫn đến nguy cơ giảm giá trị khoản vay nếu không được xử lý kịp thởi. Là khoản nợ xác định không thể thu hồi đầy đủ gốc, lãi trong điều kiện hiện hành hoặc lãi hoặc/và gốc quá hạn trên 180 ngày.
Nợ Nợ nghi ngờ nhóm này đã bị giảm giá trị nhưng chưa mất vốn hoàn toàn vì còn có các yếu tố được xác định có thể tác động cải thiện chất lượng khoản nợ. Là nợ được đánh giá không có khả năng thu hồi hoặc gốc hoặc/và Nợ mất vốn lãi quá hạn trên 1 năm. Nguồn: Tổng hợp từ IIF, 1999 Nợ xấu được quy định cụ thể trong quy chế phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng tại Việt Nam, theo Quyết định số 493/2005 của Thống đốc NHNN ngày 22/4/2000 và theo Điều 6 Quyết định số 22/VBHN- NHNN. Nợ được chia thành 5 nhóm theo cách tiếp cận định lượng.
Các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 được phân loại là nợ xấu của ngân hàng. Về phân loại nhóm nợ, Việt Nam phù hợp với một số quốc gia trên thế giới, bao gồm Hoa Kỳ, Nhật bản, Hàn 11 Quốc. Tính chung của các nhóm nợ là cơ sở để phân loại năm nhóm nợ và giải thích cơ bản của mỗi nhóm ở một số lượng lớn các quốc gia trên khắp thế giới.