Ngôn Ngữ Văn Hóa Trong Kịch Bản Tuồng Hộ Sanh Đàn Của Đào Tấn

Khám phá ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng Hồ Sanh Đàn của Đào Tấn qua luận văn tốt nghiệp, phân tích sâu sắc và ý nghĩa văn hóa.

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2021

115
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Những đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: NGỮ LIỆU VĂN HOÁ TRONG KỊCH BẢN TUỒNG NÔM HỘ SANH ÐÀN – KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ

1.1. Văn bản khảo sát – kịch bản tuồng Hộ sanh dàn

1.2. Khái niệm kịch bản tuồng

1.3. Lịch sử truyền bản Hộ sanh dàn

1.4. Tóm tắt kịch bản tuồng Hộ sanh dàn

1.5. Khảo sát ngữ liệu văn hóa bác học và bình dân trong tuồng Hộ sanh dàn của Đào Tấn

1.6. Tiêu chí khảo sát

1.7. Kết quả khảo sát

1.8. Một số nhận xét

1.9. Nghệ thuật sử dụng ngữ liệu văn hóa trong tuồng Nôm Đào Tấn

1.9.1. Hệ thống ngữ liệu văn hoá được dân dụng tự nhiên, linh hoạt, sáng tạo

1.9.2. Sự kết hợp hài hoà hai hệ thống ngữ liệu bác học và bình dân trong tuồng Nôm Đào Tấn

1.10. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ THẨM MỸ CỦA HỆ THỐNG NGỮ LIỆU VĂN HOÁ TRONG TUỒNG NÔM HỘ SANH ÐÀN

2.1. Ngữ liệu văn hoá với việc thể hiện thái độ chính trị và phản ánh hiện thực xã hội trong Hộ Sanh dàn

2.1.1. Ngữ liệu văn hoá với việc thể hiện thái độ chính trị

2.1.2. Ngữ liệu văn hoá với việc phản ánh hiện thực xã hội

2.2. Ngữ liệu văn hoá với việc thể hiện tư tưởng, quan niệm Nho giáo trong thế giới nghệ thuật Hộ Sanh dàn

2.2.1. Ngữ liệu văn hoá với việc thể hiện tư tưởng trung quân

2.2.2. Ngữ liệu văn hoá với việc thể hiện quan niệm nhân sinh

2.3. Ngữ liệu văn hoá với việc thể hiện tâm lý nhân vật trong Hộ Sanh dàn

2.3.1. Ngữ liệu văn hoá với việc thể hiện tâm lý nhân vật chính diện

2.3.2. Ngữ liệu văn hoá với việc thể hiện tâm lý nhân vật phản diện

2.4. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng Hộ sanh đàn của Đào Tấn

Kịch bản tuồng Hộ sanh đàn của Đào Tấn là một tác phẩm tiêu biểu trong nghệ thuật tuồng Việt Nam. Tác phẩm không chỉ thể hiện tài năng sáng tác của Đào Tấn mà còn phản ánh sâu sắc ngôn ngữ văn hóa của thời đại. Ngôn ngữ trong kịch bản này được sử dụng một cách tinh tế, kết hợp giữa yếu tố bác học và bình dân, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú. Đào Tấn đã khéo léo lồng ghép các yếu tố văn hóa dân gian vào trong tác phẩm, từ đó làm nổi bật giá trị nghệ thuật và văn hóa của tuồng Nôm Bình Định.

1.1. Đặc điểm ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng

Ngôn ngữ trong kịch bản tuồng Hộ sanh đàn mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian. Các từ ngữ, hình ảnh được sử dụng không chỉ đơn thuần là phương tiện giao tiếp mà còn chứa đựng nhiều tầng nghĩa sâu sắc. Đào Tấn đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ để thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật, đồng thời phản ánh hiện thực xã hội đương thời.

1.2. Vai trò của ngôn ngữ trong việc thể hiện văn hóa nghệ thuật

Ngôn ngữ không chỉ là công cụ truyền tải nội dung mà còn là phương tiện thể hiện nghệ thuật. Trong Hộ sanh đàn, ngôn ngữ được sử dụng để tạo nên những hình ảnh sống động, giúp khán giả cảm nhận được không khí của vở diễn. Đào Tấn đã sử dụng ngôn ngữ như một nghệ thuật để kết nối giữa các nhân vật và khán giả.

II. Thách thức trong việc nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng

Việc nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng Hộ sanh đàn gặp nhiều thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc thiếu tài liệu và nguồn tư liệu đáng tin cậy. Nhiều tác phẩm cổ điển đã bị thất lạc hoặc không được bảo tồn tốt, dẫn đến việc khó khăn trong việc phân tích và đánh giá. Hơn nữa, sự thay đổi trong ngôn ngữ và văn hóa qua các thời kỳ cũng tạo ra những rào cản trong việc hiểu và diễn giải các tác phẩm.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu nghiên cứu

Nhiều tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng còn hạn chế. Việc tìm kiếm và thu thập tài liệu chính xác là một thách thức lớn. Các nhà nghiên cứu cần phải nỗ lực hơn nữa để sưu tầm và bảo tồn các tác phẩm cổ điển.

2.2. Sự thay đổi của ngôn ngữ và văn hóa qua thời gian

Ngôn ngữ và văn hóa luôn biến đổi theo thời gian. Điều này khiến cho việc nghiên cứu ngôn ngữ trong kịch bản tuồng trở nên phức tạp. Các nhà nghiên cứu cần phải có kiến thức sâu rộng về lịch sử và văn hóa để có thể hiểu và phân tích đúng đắn.

III. Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng

Để nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng Hộ sanh đàn, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Phân tích ngữ liệu, so sánh với các tác phẩm khác và khảo sát thực địa là những phương pháp hiệu quả. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn sẽ giúp làm rõ hơn giá trị của ngôn ngữ trong tác phẩm.

3.1. Phân tích ngữ liệu văn hóa trong kịch bản

Phân tích ngữ liệu văn hóa trong kịch bản Hộ sanh đàn giúp làm nổi bật các yếu tố văn hóa đặc trưng. Các từ ngữ, hình ảnh và biểu tượng được sử dụng sẽ được xem xét kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về ý nghĩa và giá trị của chúng.

3.2. So sánh với các tác phẩm tuồng khác

So sánh Hộ sanh đàn với các tác phẩm tuồng khác sẽ giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về Đào Tấn mà còn về sự phát triển của nghệ thuật tuồng Việt Nam.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng

Nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng Hộ sanh đàn không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn. Việc hiểu rõ ngôn ngữ văn hóa sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và bảo tồn nghệ thuật tuồng. Đồng thời, nó cũng góp phần vào việc phát triển các chương trình giáo dục văn hóa cho thế hệ trẻ.

4.1. Nâng cao chất lượng giảng dạy nghệ thuật tuồng

Việc nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa sẽ giúp giáo viên có thêm tư liệu và phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn. Điều này sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về giá trị của nghệ thuật tuồng và văn hóa dân tộc.

4.2. Bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng

Nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng sẽ góp phần vào việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng. Các nhà nghiên cứu có thể đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật này trong đời sống hiện đại.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng

Nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng Hộ sanh đàn của Đào Tấn là một lĩnh vực đầy tiềm năng. Việc hiểu rõ ngôn ngữ văn hóa không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần vào việc phát triển nghệ thuật tuồng trong tương lai. Cần có sự quan tâm và đầu tư hơn nữa từ các cơ quan chức năng để nghiên cứu và phát huy giá trị của nghệ thuật này.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa

Nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng không chỉ có giá trị về mặt học thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn. Nó giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

5.2. Định hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai

Cần có các chương trình nghiên cứu và bảo tồn nghệ thuật tuồng một cách bài bản. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn sẽ giúp nâng cao giá trị của nghệ thuật này trong xã hội hiện đại.

15/07/2025
0689 ngôn ngữ văn hóa trong kịch bản tuồng hộ sanh đàn của đào tấn luận văn tốt nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đào Tấn là một tài năng lớn, toàn diện, một “nhân tài nghệ thuật đặc biệt” (Xuân Diệu) trong lịch sử văn hoc nghệ thuật Việt Nam. Hơn nữa, Đào Tấn còn đƣợc coi là “Hậu tổ” của nghệ thuật tuồng. Ông đã để lại một di sản văn hóa phong phú, đồ sộ, có giá trị cao, có sức sống lâu bền với hơn 40 kịch bản do ông biên soạn và nhuận sac.

Có thể nói ông là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của nghệ thuật tuồng. Cuộc đời và sự nghiệp Đào Tấn đã thu hút mạnh mẽ sự nghiên cứu của các nhà khoa hoc ngay từ những năm đầu của thế kỉ XX. Theo tác giả Lê Ngoc Cầu, trƣớc đây “Sự nghiên cứu tuồng và chèo hầu như chỉ thu hẹp vào phạm vi sân khấu, mặt vǎn học ít dược chú ý dến. Cách làm như vậy có khuynh hướng làm giảm bớt những giá trị thẩm mỹ của tuồng và chèo, kéo nó xuống hàng một nghệ thuật diễn xuất dơn thuần trong dó vai trò của kỹ thuật biểu diễn xâm chiếm ưu thế hơn so với vai trò của nội dung thực sự vǎn học của tác phẩm” [12, tr.

Mỗi loại hình nghệ thuật đều có một chất liệu riêng để diễn đạt. Chất liệu của hội hoa là màu sac, chất liệu của âm nhạc là âm thanh. Đối với tuồng, bên cạnh những chất liệu đặc trƣng nhƣ diễn xuất, hình thể, giong nói của diễn viên, không thể thiếu một nhân tố cơ bản quan trong hàng đầu là kịch bản tuồng mà hạt nhân của nó không gì khác ngoài chất liệu ngôn từ. Lâu nay, trong một số công trình nghiên cứu tuồng ít ai đề cập đến phần kịch bản văn hoc tuồng về các vấn đề nhƣ đặc trƣng ngôn ngữ, nội dung, nghệ thuật kịch bản tuồng.

Tuồng Đào Tấn là đỉnh cao của nghệ thuật Tuồng Bình Định. Phong cách Tuồng Đào Tấn là một thể thống nhất từ tƣ tƣởng đến cấu trúc kịch bản, từ văn hoc Tuồng đến nghệ thuật biểu diễn, từ âm nhạc ca hát đến vũ đạo và mỹ thuật sân khấu,… Đào Tấn đã khai thác những nét ƣu tú của Tuồng cung 2 đình và kết hợp với những riêng biệt Tuồng hát bội Bình Định để tạo thành phong cách đặc trƣng cho cá nhân mình. Khi nói đến các loại hình dân gian và bác hoc đặc trƣng của khu vực văn hóa Nam Trung bộ, các nhà nghiên cứu luôn đề cập đến nghệ thuật Tuồng, với tƣ cách là một biểu tƣợng văn hóa. Từ góc độ khu vực văn hóa, tuồng là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền của dân tộc, là niềm tự hào của ngƣời dân của vùng đất này.

Sự tồn tại và lƣu truyền hàng trăm vở tuồng cổ cho đến nay chứng tỏ loại hình sân khấu này có giá trị và đƣợc nhiều thế hệ khán giả yêu thích. Tuy nhiên, trong thời buổi hiện nay, nghệ thuật tuồng dần đi xuống. Bên cạnh đó là sự du nhập của các loại hình nghệ thuật mới đƣợc giới trẻ hào hứng tiếp nhận, giới trẻ ít ai thực sự quan tâm và thƣởng thức loại hình nghệ thuật này nên nghệ thuật tuồng dần lui về. Có lẽ, đây là một trong những nguyên nhân cơ bản, khiến cho bộ môn Tuồng dần bị mai một trong tâm trí ngƣời dân.

Thế nhƣng những thế hệ lớn hơn, lớp ngƣời già thì van dành tình yêu cho các đào kép, cho tiếng trống chầu một thời đã làm cho ho ngất ngây. Ở Bình Định, trong những năm gần đây, cùng với sự nỗ lực của địa phƣơng và các nhà nghiên cứu, đội ngũ các nhà khoa hoc, giảng viên khoa Ngữ văn, Trƣờng Đại hoc Quy Nhơn đã tích cực giới thiệu, giảng dạy và hƣớng dan tìm hiểu về những nét đẹp của bộ môn nghệ thuật độc đáo đã làm nên tên tuổi của vùng văn hóa xứ Nau đặc sac này. Đã nhiều lần nghệ thuật Tuồng Đào Tấn đƣợc đƣa vào giới thiệu ở các trƣờng hoc tại Tỉnh Bình Định, nhƣng chƣa phổ biến sâu rộng nghệ thuật mà chỉ mang tính hình thức. Thế nên ngƣời thƣởng thức đƣợc cái hay của loại hình này không nhiều.

Thiết nghĩ, Tuồng Đào Tấn đƣợc phát triển cao hơn, hay hơn cần phải có nhiều ngƣời biết và hiểu về nó. Điều đó đặt ra một yêu cầu cấp thiết là đƣa Tuồng Đào Tấn đến gần với thế hệ trẻ, trong đó biện pháp hữu hiệu nhất là đƣa loại hình nghệ thuật này trở thành một trong những nội dung giáo dục HĐNK 3 trong nhà trƣờng. Điều đó sẽ giúp cho lớp trẻ hôm nay nhận ra đƣợc những giá trị tinh thần vô cùng to lớn đƣợc kết tinh trong các làn điệu Tuồng của quê hƣơng Bình Định. Từ chỗ hiểu đƣợc các giá trị, các em biết trân trong, yêu quý và có ý thức, trách nhiệm giữ gìn và bảo tồn di sản tinh thần to lớn đó.

Là một ngƣời con của quê hƣơng Bình Định, để đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc gìn giữ vốn giá trị, vốn quý của nghệ thuật tuồng Đào Tấn, việc nghiên cứu, sƣu tầm, khảo sát, đánh giá về ngôn ngữ đƣợc Đào Tấn sử dụng trong các vở tuồng của mình từ góc nhìn văn hóa là việc làm có ý nghĩa khoa hoc và góp phần tôn vinh những giá trị mà nhà văn hoá Đào Tấn đã để lại cho nhân dân Bình Định nói riêng và Việt Nam nói chung. Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chon vấn đề Ngôn ngữ văn hoá trong k ch bản tuồng Hộ sanh đàn của Đào Tấn để làm đề tài luận văn thạc sĩ của cá nhân, hi vong thông qua luận văn của mình, chúng tôi có thể đóng góp thêm một phần nhỏ công sức đối với lịch sử nghiên cứu nghệ thuật Tuồng Nôm nói chung và tác giả Đào Tấn nói riêng cho vùng văn hoá Tuy Phƣớc, Bình Định. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. ch sử nghiên cứu tuồng Nôm Bình Đ nh Có thể nói, tuồng Nôm là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền của dân tộc Việt Nam nói chung và Bình Định nói riêng; sự tồn tại và lƣu truyền khá nhiều kịch bản tuồng Nôm cho đến nay ở vùng “đất võ trời văn” này đã chứng minh sức sống bất diệt của loại hình sân khấu truyền thống khá đặc biệt này.

Trƣớc những năm trƣớc Cách mạng tháng Tám, một số hoc giả cho rằng, cụ Đào Tấn thông qua những trải nghiệm của bản thân trong lĩnh vực sáng tác và biểu diễn đã biên soạn một tài liệu cơ bản về tuồng với nhan đề Hý trường tùy bút lục [19, tr. Đây thực sự là những ghi chép tản mạn nhƣng khá sâu sac 4 về Tuồng. Đây thực sự là những ghi chép tản mạn nhƣng khá sâu sac về Tuồng. Tuy nhiên tác phẩm này cũng còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu thêm.

Xét về nội dung, tác phẩm cũng đã cung cấp cho ngƣời đoc, cho các nghệ sĩ tuồng những nhận thức cần thiết khi thƣởng thức và biểu diễn bộ môn nghệ thuật này. Năm 1926, trên Nam phong tạp chí (số 65), ông Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục đã có bài viết về nghệ thuật diễn xƣớng của Việt Nam. Trong bài viết này, ông cũng đã bƣớc đầu đánh giá một số mặt tiến bộ và giá trị nghệ thuật tuồng cổ Hán Nôm ở khu vực Quảng Nam, Bình Định. Đầu thập niên 40 của thế kỉ XX, sau Nguyễn Đôn Phục, Ƣng Bình Thúc Dạ thị cũng tiếp tục nêu bật và trải nghiệm những ƣu thế của Tuồng Nôm qua một số vở do ông chuyển thể và biên soạn, tiêu biểu nhất là vở Đông Lộ Địch (Le Cid) [dan lại 45, tr.

Từ năm 1945, sau khi tham gia chính quyền cách mạng, Trúc Tôn Phạm Phú Tiết, một nhà nghiên cứu, một diễn viên Tuồng dày dạn kinh nghiệm của Quảng Nam trƣớc và sau 1945 cũng đã tìm hiểu và nghiên cứu về phƣơng diện lý luận của bộ môn nghệ thuật này qua công trình Chầu dôi (do Vũ Ngoc Liễn sƣu tầm, giới thiệu). Xét về phƣơng diện lý luận và biên khảo, chú giải kịch bản tuồng, chúng tôi cho rằng những đóng góp của cụ Phạm Phú Tiết là vô cùng to lớn và sâu sac. Trong giai đoạn 1945 đến 1975, ở cả hai miền Nam - Bac, các cơ quan quản lý nghệ thuật, một số hoc giả đã bat đầu quan tâm hơn đến lý luận sân khấu và cho xuất bản một số đầu sách, công trình khoa hoc có liên quan đến kịch bản sân khấu Tuồng nói chung và kịch bản tuồng Nôm Bình Định nói riêng (chủ yếu là của Nguyễn Diêu và Đào Tấn). Việc thành lập Ban nghiên cứu Tuồng thuộc Bộ Văn hoá trong thời kì kháng chiến chống Mỹ là một chủ trƣơng có tính quyết liệt, hiệu quả đối với công cuộc bảo tồn vốn cổ của tiền nhân.

Cơ quan này tập hợp một số nhà nghiên cứu kỳ cựu lúc bấy giờ, tiêu biểu nhƣ cụ Phạm Phú Tiết, Mịch Quang, 5 Nguyễn Lai, Hồ Lãng, Lê Ngoc Cầu, Lê Cƣờng, Vũ Ngoc Liễn… do nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký làm Trƣởng ban. Đây là cơ quan nhà nƣớc vừa có chức năng nghiên cứu lý luận vừa có chức năng sƣu tầm, chỉnh lý các văn bản tuồng Hán Nôm. Có thể nói, đây là cái nôi đã hỗ trợ cho những công trình, chuyên luận về Tuồng ra đời trong các giai đoạn sau này nhƣ: Tuồng cổ - Nghiên cứu và hiệu dính vǎn bản (1973), Sơ khảo lịch sử nghệ thuật Tuồng (1978), Tuồng - Hát bội và bản sắc sân khấu truyền thống Việt Nam (1981), Nghệ thuật biểu diễn Tuồng (1983), Nghệ thuật Tuồng cung dình (1989), Mấy diều cơ bản trong biên dịch Tuồng (1990), Tổng tập Vǎn học Việt Nam - Tập 15A (dành riêng cho kịch bản Tuồng - 1994), Tuồng Quảng Nam (1999), Từ diển nghệ thuật Hát bội Việt Nam (2000)…Sự ra đời của Ban nghiên cứu Tuồng đã đánh một dấu mộc quan trong trong diễn trình lịch sử nghiên cứu phê bình của bộ môn này. Sự tác động của các công trình nêu trên đến việc nghiên cứu tuồng cổ Bình Định là vô cùng thiết thực.

Trực tiếp sƣu tầm và nghiên cứu về văn bản tuồng Bình Định, đặc biệt là sơ thảo mối liên hệ và tác động của Đào Tấn đến sự phát triển của tuồng Bình Định, chúng ta có thể ghi nhận những đóng góp của hai tác giả Quách Tấn và Quách Giao. Đƣợc khởi thảo từ những năm 1960 của thế kỉ trƣớc, tập sách Ðào Tấn và Hát bội Bình Ðịnh (xuất bản năm 2007) là những suy nghĩ, phác thảo một cách có hệ thống, sự kết hợp giữa phƣơng pháp điền dã và phân tích logic, hai nhà biên soạn đã cho chúng ta thấy đƣợc mối quan hệ và ảnh hƣởng qua lại giữa Đào Tấn và hát bội Bình Định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ