Chương 1, nghiên cứ u đã nêu rõ tính cấp thiết của đề tài cũng như các nội dung khác có liên quan như tiêu, đố i g và kết cấu của đề tài nghiên cứ u. muc tươn 21 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NHẬP NGOÀI LÃI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Giới thiệu chung về thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng thương mại Hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường là hoạt động kinh doanh với mục đích là lợi nhuận. Muốn thu được lợi nhuận cao thì vấn đề then chốt là quản lý tốt các khoản mục tài sản Có sinh lời, nhất là khoản mục cho vay và đầu tư. Hoạt động dịch vụ tạo ra các khỏan thu nhập lớn với chi phí thấp, do đó các ngân hàng thương mại cần mở rộng hoạt động dịch vụ để gia tăng lợi nhuận. Thu nhập của ngân hàng bao gồm sáu khoản mục lớn: Thu nhập từ hoạt động tín dụng, Thu nhập từ hoạt động dịch vụ, Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, Thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác, Thu nhập góp vốn mua cổ phần, Thu nhập khác (Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự - Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại hiện đại, 2010).
Thu nhập của các ngân hàng thương mại gồm nhiều khoản thu bắt nguồn từ các sản phẩm dịch vụ đa dạng mà ngân hàng mang lại. Nhìn chung người ta thường chia ra làm hai phần chính là thu nhập từ hoạt động tín dụng và thu nhập từ hoạt động phi tín dụng hay còn được gọi là thu nhập ngoài lãi. Khái niệm về thu nhập của các ngân hàng thương mại được thể hiện như sau: Tổng thu nhập từ hoạt động thuần (net operationg income) của các ngân hàng thương mại là thu nhập thuần từ các hoạt động tín dụng và phi tín dụng. Thu nhập thuần từ các hoạt động tín dụng được xem là thu nhập lãi thuần (net interest income) và được thể hiện dưới mục “Thu nhập lãi thuần” trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Thu nhập thuần từ các hoạt động phi tín dụng là thu nhập từ hoạt động phi lãi, còn được gọi là thu nhập ngoài lãi (net-non interest income) (Hoàng Ngọc tiến và cộng sự, 2010) Thu nhập ngoài lãi là khoản thu nhập của ngân hàng thương mại được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt 22 động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư. Ví dụ như các khoản thu nhập từ các dịch vụ dựa trên cơ sở thu phí và hoa hồng (thu nhập từ phí) của các hoạt động như bảo lãnh, ủy thác, môi giới, tư vấn, cho thuê két, quản lý tiền mặt, trung gian thanh toán; Thu nhập từ một số hoạt động kinh doanh như kinh doanh ngoại hối và vàng, mua bán chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư; Thu nhập từ góp vốn, cổ phần cũng là một phần trong thu nhập ngoài lãi. Như vậy, trong nghiên cứu này, định nghĩa của thu nhập ngoài lãi có thể xem là toàn bộ thu nhập của ngân hàng không kể đến dịch vụ tín dụng, được thể hiện qua các hoạt động thanh toán, ngân quỹ, bảo lãnh, thu phí, tư vấn, kinh doanh ngoại tệ. Tại Việt Nam, chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập ngoài lãi được đề cập nhiều đến trong các báo cáo phân tích, đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Theo các đánh giá thì chỉ tiêu này càng lớn càng thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài lãi cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này. Nó cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng (Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự, 2010). Ngược lại, chỉ tiêu càng nhỏ sẽ càng thể hiện sự hạn chế trong phạm vi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, hay nói cách khác là ngân hàng thương mại chỉ chủ yếu cung cấp dịch vụ tín dụng cổ truyền (cho vay). Một số cơ quan có thẩm quyền đang xem xét, bổ sung về việc áp dụng các quy định pháp luật nhằm hạn chế phạm vi hoạt động của các ngân hàng cũng như tạo ra những bước đi mới và cụ thể cho các hoạt động phi truyền thống.
Những quy định mới này được bắt nguồn từ quy luật Volcker tại Mỹ, những đề xuất của Ủy ban Vickers tại nước Anh và báo cáo Liikanen của Ủy ban Châu Âu. Dự thảo luật về quy định cơ cấu các ngân hàng đang được tiến hành tại Đức và Pháp (Gambacorta và Van Rixtel, 2013; Vinals và các cộng sự, 2013). Điều này cho thấy chính phủ cũng như các nhà quản lý ngành ngân hàng tại các nước phát triển như Anh, Mỹ, Đức và Pháp cũng đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động đa dạng hóa thu nhập nhằm từng bước phát triển hơn. Trong bối cảnh các ngân hàng thoát ra khỏi những luật lệ trước đây và bước vào thời kỳ tự do hóa tài chính, hệ thống ngân hàng thế giới phải đối mặt với những thay đổi 23 lớn thông qua cạnh tranh gay gắt, tập trung và sự tái cơ cấu.
Các ngân hàng bắt buộc phải phản ứng và thích nghi bằng cách mở rộng các hoạt động kinh doanh khác bao gồm các hoạt động phi truyền thống như chứng khoán hóa, thư tín dụng dự phòng và chứng khoán phái sinh, đã nhanh chóng được mở rộng hơn, qua đó các ngân hàng thương mại có thể tăng thu nhập đáng kể từ các hoạt động này. Cách thức đo lường thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng thương mại Theo Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự (2010), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi là một chỉ tiêu được sử dụng khá phổ biến trong các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại hiện nay. Tuy nhiên cho đến nay Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chính thức tính toán cụ thể chỉ tiêu này. Sau đây là một vài phương pháp tính toán chỉ tiêu này dựa trên tổng thu nhập được một số ngân hàng quốc doanh sử dụng, cụ thể là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) đề cập ngày 27/07/2009 như sau: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập của ngân hàng, Tỷ lệ thu dịch vụ ngoài lãi trên tổng tài sản bình quân và Tỷ lệ thu dịch vụ ngoài lãi trên vốn tự có bình quân.
+ Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi sẽ được tính toán theo công thức sau: t (%)= B T x 100 (2.1) Trong đó t% là tỷ lệ thu nhập ngoài lãi, A là thu nhập từ hoạt động tín dụng, B là thu nhập từ hoạt động phi tín dụng, T là tổng thu nhập ròng của ngân hàng (T = A + B). Công thức này chỉ phản ánh đầy đủ ý nghĩa của tỷ lệ thu nhập ngoài lãi tín dụng trong tổng thu nhập của một ngân hàng thương mại trong điều kiện cả hoạt động tín dụng và ngoài lãi của ngân hàng đều có chênh lệch thu nhập dương (nghĩa là A,B>0). Tuy nhiên, do cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại hoặc do thị trường biến động dẫn đến các tình huống thực tế khác nhau không phản ánh được đúng tỷ lệ tăng, giảm của hoạt động phi tín dụng bằng cách sử dụng phương pháp này. + Tỷ lệ thu dịch vụ ngoài lãi trên tổng tài sản bình quân 24 Một trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng là thu nhập ròng trên tổng tài sản bình quân - ROAA (return on average asset).
Trong đó ROA được tính như sau: ROAA (%)= Tổng tài sản bình quân Tổng thu nhập ròng (2.2) Từ đó cách tính tỷ lệ thu nhập ngoài lãi dựa trên tổng tài sản là như sau: B t (%) = Tổng giá trị tài sản bình quân trong kỳ (2.3) Trong đó t là tỷ lệ thu nhập ngoài lãi, B là thu nhập từ hoạt động phi tín dụng. Ý nghĩa: Tỷ lệ này phản ánh một đồng giá trị tài sản bình quân của một ngân hàng thương mại sẽ tạo ra bao nhiêu thu nhập ngoài lãi trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện quy mô và hiệu quả của hoạt động dịch vụ ngoài lãi của ngân hàng thương mại và ngược lại. Phương pháp này có thể sử dụng để phân tích, so sánh cho cả ngân hàng thương mại) và chi nhánh ngân hàng thương mại (pháp nhân phụ thuộc).
+ Tỷ lệ thu dịch vụ ngoài lãi trên vốn tự có. Tương tự như phương pháp trên, chỉ tiêu khác có thể đánh giá hiệu quả trong hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng là Thu nhập trên vốn tự có bình quân – ROAE (return on average equity). ROAE (%) = Tổng nguồn vốn tự có bình quân Tổng thu nhập ròng (2.4) Từ đó có thể tính được tỷ lệ thu nhập ngoài lãi như sau: B t (%) = Tổng nguồn vốn tự có bình quân trong kỳ (2.5) Ý nghĩa: Tỷ lệ này phản ánh một đồng vốn tự có bình quân của một ngân hàng thương mại sẽ tạo ra được bao nhiêu thu nhập ngoài lãi trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện quy mô và hiệu quả hoạt động dịch vụ ngoài lãi của ngân hàng thương mại đó và ngược lại.
Phương pháp này chỉ sử dụng cho pháp nhân độc lập (cả ngân hàng thương mại), không sử dụng cho pháp nhân phụ thuộc (chi nhánh ngân hàng thương 25 mại) vì trên bảng cân đối kế toán của các chi nhánh ngân hàng thương mại không phản ánh đầy đủ vốn tự có. Trong bài viết này, vì luận văn đang nghiên cứu dựa trên số liệu của 26 ngân hàng thương mại Việt Nam nên tác giả sẽ sử dụng cả 2 phương pháp Tỷ lệ thu dịch vụ ngoài lãi trên tổng tài sản bình quân và Tỷ lệ thu dịch vụ ngoài lãi trên vốn tự có bình quân để tiến hành phân tích đánh giá. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.