PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với chính sách quản lý và điều hành hợp lý của Đảng và Nhà nước, kinh tế nước ta đang từng bước phát triển. Là một nền kinh tế đang phát triển nên nhu cầu về vốn, kỹ thuật công nghệ rất lớn; do đó, việc tận dụng các nguồn vốn có thể để phát triển nền kinh tế là điều rất cần thiết.
Ngoài nguồn vốn từ Chính phủ, c n có nguồn vốn từ cá nhân, tổ chức trong nước cũng như cá nhân, tổ chức đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài, Tuy nhiên, không phải lúc nào nguồn vốn nhàn rỗi cũng được sử dụng, vì chủ thể có vốn lại chưa có ý tưởng SXKD nào, trong khi đó, chủ thể muốn SXKD lại không đủ vốn. Do vậy, việc dẫn vốn từ chủ thể có vốn tạm thời thừa sang chủ thể cần vốn là điều rất cần thiết. Do đó, hệ thống các tổ chức tín dụng trong đó có QTDND được ra đời. Ngày 27/7/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 390/QĐ-TTg về việc triển khai thí điểm thành lập QTDND.
Theo đó, QTDND được thành lập theo mô hình HTX, có chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong việc huy động vốn và đáp ứng nhu cầu vốn tại chỗ cho TV. Sau gần 30 năm hoạt động, hệ thống QTDND đã mang lại hiệu quả cao như huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các TV cho SXKD, dịch vụ và đời sống, nhất là trên địa bàn nông nghiệp và nông thôn; góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo tạo công ăn việc làm và hạn chế nạn cho vay nặng lãi, đóng vai tr quan trọng trong nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính NH nói riêng. Vì vậy, xây dựng và phát triển hệ thống QTDND được xem là một trong những giải pháp hàng đầu trong phát triển kinh tế nông nghiệp- nông thôn Việt Nam. Trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, đ i hỏi cả nước và mỗi địa phương cần có sự rà soát, điều chỉnh, cơ cấu lại nền kinh tế để khai thác thế mạnh tiềm năng nói chung và trên từng lĩnh vực nói riêng.
Với chức năng huy động vốn để cho vay trong thời gian qua hệ thống QTDND đã góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong việc xây dựng nông thôn 2 mới nói riêng. Tuy nhiên, trên con đường phát triển bền vững, hệ thống QTDND cũng đang gặp phải những khó khăn, thách thức như: (i) nhiều QTDND có xu hướng hoạt động xa rời tôn chỉ, mục đích; có biểu hiện chạy theo lợi nhuận đơn thuần; (ii) công tác quản trị, điều hành, kiểm soát còn nhiều thiếu sót, liên quan trực tiếp tới nhân sự từ lãnh đạo cấp cao cho tới cán bộ tín dụng thẩm định. “Có thể do năng lực yếu kém, không có kinh nghiệm, kiến thức về quản trị rủi ro trong hoạt động tiền tệ tín dụng dẫn đến cho vay quá nhiều vào các ngành, nghề có rủi ro cao, hay chưa có sự cân đối dẫn tới chênh lệch về kỳ hạn cho vay. Hoặc một khía cạnh khác là cá biệt có một số quỹ có cán bộ lãnh đạo, nhân viên vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền hạn sử dụng vốn sai mục đích; (iii) Quy mô hoạt động còn nhỏ, năng lực quản trị điều hành cũng như khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động còn bị hạn chế, dẫn đến hoạt động của QTDND tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhiều Quỹ đã bị đặt vào tình trạng KSĐB, tiêu biểu phải kể đến một số QTDND ở tỉnh Đồng Nai, Bắc Giang, Bắc Ninh và Bình Thuận cũng không phải là trường hợp ngoại lệ (02 QTDND đang đặt trong tình trạng KSĐB); (iv) trong bối cảnh khó khăn đó, các QTDND có quy mô nhỏ bé lại phải cạnh tranh ngày càng gay gắt với các NHTM về sản phẩm, chất lượng dịch vụ, lãi suất, địa bàn hoạt động; (v) hoạt động của QTDND phát sinh ngày càng nhiều rủi ro, trong đó, rủi ro đạo đức chiếm đa số.
Nếu xảy ra rủi ro thì hậu quả rất nghiêm trọng, không những ảnh hưởng đến nền kinh tế mà c n ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội trên địa bàn; (vi) các QTDND chỉ có thể vượt qua được những khó khăn khi phát huy được tính chất của loại hình TCTD hợp tác là tương trợ cho các TV, khả năng liên kết và hỗ trợ cho nhau giữa các TV góp vốn. Tuy nhiên, điều này lại là điểm yếu kém nhất hiện nay của các QTDND trên địa bàn tỉnh Bình Thuận do tổ chức và hoạt động chưa được hoàn thiện. Bên cạnh đó, thủ tục kết nạp, phát triển thành viên c n rườm rà phải thông qua Đại hội thành viên, dẫn đến một bộ phận người dân chưa có điều kiện tiếp cận dịch vụ tài chính kịp thời, công thêm sự hiểu biết thấp đã sa đà vào bẫy tín dụng đen; sản phẩm dịch vụ của các QTDND c n đơn điệu, chưa theo kịp nhu cầu phát triển ngày càng đa dạng của khách hàng; cơ cấu giữa nguồn huy động và dư nợ cho vay mất cân đối, chất lượng hoạt động thấp, tình hình tài chính yếu, nợ quá 3 hạn cao và xu hướng ngày càng tăng. Một số QTDND lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán, chi trả có nguy cơ ảnh hưởng đến các QTDND khác trên địa bàn; Chính vì vậy, việc tái cơ cấu các QTDND là vấn đề cấp bách và hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Có nhiều nghiên cứu trên trong và ngoài nước về QTDND, song chỉ tập trung nghiên cứu sâu về lý thuyết phát triển hệ thống QTDND và mô hình QTDND hoặc nghiên cứu đánh giá tổng kết thực tiễn kết quả tái cơ cấu chung về hệ thống QTDND trong phạm vi cả nước, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về QTDND cũng như quá trình tái cơ cấu QTDND nhất là trong thời gian gần đây (2016 – 2020). Mặt khác, mỗi công trình nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ một số khía cạnh nào đó của hệ thống QTDND và hầu như các công trình nghiên cứu đã được thực hiện đã lâu, chưa cập nhật văn bản pháp luật mới cũng như sự thay đổi rất lớn về kinh tế của Việt Nam hiện nay. Thấy được sự cấp thiết này, nhất là khi NHNN đang chuẩn bị xây dựng và chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án cơ cấu lại TCTD nói chung và QTDND nói riêng trong giai đoạn 2021-2025, Tác giả đã chọn đề tài “Tái cơ cấu các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Bình Thuận” cho Luận văn Thạc sỹ của mình. Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả mong muốn đề xuất được những giải pháp cụ thể, thiết thực và có tính khả thi cao, phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm góp phần đẩy mạnh hoạt động tái cơ cấu của các QTDND trong thời gian tới.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2. Mục tiêu tổng quát Đẩy mạnh hoạt động tái cơ cấu các QTDND trong thời gian tới nhằm giúp các QTDND hoạt động an toàn, bền vững và phát triển hiệu quả. Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu, trình bày khái quát cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND và tái cơ cấu QTDND trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Phân tích, đánh giá thực trạng Tái cơ cấu của hệ thống QTDND trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua để thấy những kết quả đạt được và yếu kém 4 trong hoạt động của QTDND; làm rõ các nguyên nhân; qua đó thấy được tầm quan trọng của việc hoạt động Tái cơ cấu của hệ thống QTDND trên địa bàn tỉnh.
Sử dụng các cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá đối chiếu vào tái cơ cấu hệ thống QTDND phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Bình Thuận. Từ đó, xác định các nội dung cụ thể về tái cơ cấu trên các mặt về tổ chức, hoạt động và tài chính; đồng thời xác định các giải pháp và đề xuất kiến nghị với đơn vị liên quan trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tái cơ cấu nhằm góp phần đảm bảo hoạt động hệ thống QTDND an toàn, hiệu quả, phát triển ổn định và bền vững. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Dựa trên những vấn đề vừa được đề cập ở trên, Luận văn này xác định các câu hỏi nghiên cứu như sau: - Tại sao phải thực hiện Tái cơ cấu QTDND? - Tại sao phải thực hiện Tái cơ cấu các QTDND trên địa bàn tỉnh Bình Thuận? Nội dung của các phương án Tái cơ cấu các QTDND trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020? Kết quả Tái cơ cấu các QTDND trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016- 2020? Những mặt hạn chế yếu kém trong quá trình thực hiện tái cơ cấu là gì? - Những khó khăn, thách thức mới tác động đến hoạt động QTDND trên địa bàn tỉnh Bình Thuận? Nội dung và biện pháp cần phải thực hiện tái cơ cấu QTDND trong thời gian tới? 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.
Đối tƣợng nghiên cứu: là hoạt động tái cơ cấu của các QTDND trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Phạm vi nghiên cứu: - Về phạm vi không gian: Tái cơ cấu hoạt động của 25 QTDND trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. - Về phạm vi thời gian: từ năm 2016-2020. - Hoạt động tái cơ cấu QTDND bao hàm những nội dung lớn như tổ chức, hoạt động, tài chính Tuy nhiên, trong Luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu 5 sâu về tái cơ cấu hoạt động kinh doanh của các QTDND trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.