MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI So với các nước phát triển, do những ràng buộc về quản lý, tổ chức và môi trường, doanh nghiệp tại các nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn hơn khi thực hiện TMĐT (Molla và Licker, 2005). Mặc dù TMĐT tại các nước đang phát triển còn tương đối mới và điều kiện thực hiện thấp, nhưng TMĐT có thể mang lại nhiều lợi ích to lớn cho doanh nghiệp. Một trong những rào cản lớn là nguồn lực tài chính. Nếu thực hiện TMĐT không thành công, doanh nghiệp tại các nước đang phát triển có thể phải trả giá lớn hơn.
Cho đến hiện nay, có rất ít nghiên cứu giải thích tại sao còn nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện TMĐT và chỉ ra được các yếu tố giải thích sự khác biệt về thực hiện TMĐT tinh vi hay đơn giản giữa các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển. Do đó, nghiên cứu về sẵn sàng và thực hiện TMĐT của doanh nghiệp được đặt ra. Thực tế đã xuất hiện một số nghiên cứu đánh giá sự sẵn sàng TMĐT của doanh nghiệp (Huang, 2004; Bộ Công Thương, 2008), và nghiên cứu nhân quả về sự sẵn sàng cũng đã xuất hiện tại các nước đang phát triển nhưng chưa nhiều (Ramayah, 2005). Như vậy, cần rất nhiều nghiên cứu về sẵn sàng và thực hiện TMĐT của doanh nghiệp tại các nước đang phát triển và đặc biệt là các nghiên cứu nhân quả.
Tại Việt nam, cho đến hiện nay, với những cơ sở dữ liệu đã được tìm kiếm bởi tác giả thì chưa có nghiên cứu NHÂN QUẢ về sẵn sàng và thực hiện TMĐT của doanh nghiệp. Trong một nghiên cứu về thực hiện công nghệ thông tin và truyền thông mới (động lực công nghệ của TMĐT), Basole (2006) cho rằng sẽ không sáng suốt khi doanh nghiệp thực hiện mà chưa sẵn sàng cho công nghệ thông thông tin và truyền thông. Thiếu sự sẵn sàng, nhiều doanh nghiệp đã không thành công. Do đó, vấn đề chưa hay thiếu sẵn sàng cũng có thể là nguyên nhân gây thất bại cho doanh nghiệp khi 2 thực hiện TMĐT.
Ở Việt Nam, tuy sự sẵn sàng TMĐT của doanh nghiệp đã tăng từ năm 2005 đến 2007 nhưng nhìn chung tình hình cũng chưa khả quan. Điều đó thể hiện rõ trong “Báo cáo thương mại điện tử năm 2007” của Bộ Công thương về mức độ sẵn sàng TMĐT của các doanh nghiệp Việt Nam công bố vào tháng 2/2008. Cả nhà nước và doanh nghiệp đều mong muốn cải thiện tình trạng này (Bộ Công Thương, 2008). Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp nhưng kết quả còn khiêm tốn (Bộ Công Thương, 2008).
Việc xác định những yếu tố tổ chức nào, mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự sẵn sàng và thực hiện TMĐT của doanh nghiệp được đặt ra. Do đó, để giúp các nhà quản lý doanh nghiệp ra quyết định cải thiện tình trạng sẵn sàng và thực hiện TMĐT một cách có cơ sở và hiệu quả, tác giả chọn đề tài “Các yếu tố chức ảnh hưởng đến sự sẵn sàng và thực hiện TMĐT của doanh nghiệp” để thực hiện luận án.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Doanh nghiệp TP HCM được chọn làm đối tượng nghiên cứu vì TP HCM được xem là trung tâm kinh tế phát triển nhất của cả nước. Kết quả nghiên cứu trong chừng mực nào đó cũng có thể đại diện cho cả Việt nam. Nghiên cứu tập trung vào cả doanh nghiệp trong nước và có vốn đầu tư của nước ngoài nhằm đảm bảo kết quả nghiên cứu sẽ phản ảnh đầy đủ và toàn diện hơn.
Về phạm vi ngành, nghiên cứu chọn kết hợp cả ba ngành sản xuất, thương mại và dịch vụ như cơ khí, điện tử-công nghệ thông tin, tài chính-ngân hàng, xây dựng, giáo dục đào tạo, và công nghiệp chế biến. Đây là những ngành kinh tế chủ chốt và/hoặc trong định hướng phát triển của thành phố đến năm 2010 (Minh Tú và Quang Trung, 2008). 3 Đây là một nghiên cứu lý thuyết nên luận án (1) Chỉ tập trung vào làm rõ các khái niệm trong mô hình lý thuyết bao gồm: • Các yếu tố tổ chức như định hướng học tập, định hướng thị trường, và tính đổi mới • Các yếu tố khác như nhận thức lợi ích TMĐT, sẵn sàng TMĐT, thực hiện TMĐT đơn giản, và thực hiện TMĐT tinh vi (2) Xác định các mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình nghiên cứu (3) Trình bày các hàm ý quản lý, gợi ý một số giải pháp nâng cao sự sẵn sàng và thực hiện TMĐT, và đánh giá các giải pháp đó của doanh nghiệp TPHCM Do đó, nghiên cứu này sẽ không đánh giá mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp cần có để thực hiện TMĐT thành công.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu hiện tại cố gắng đạt được ba mục tiêu sau: (1) nhận dạng các yếu tố tổ chức, nhận thức lợi ích TMĐT, sẵn sàng và thực hiện TMĐT trong doanh nghiệp; (2) xác định các mối quan hệ giữa các yếu tố định hướng thị trường, định hướng học tập và tính đổi mới, nhận thức lợi ích TMĐT, sẵn sàng và thực hiện TMĐT; (3) từ kết quả của nghiên cứu, trình bày các hàm ý quản lý, gợi ý một số giải pháp nâng cao sự sẵn sàng và thực hiện TMĐT, và đánh giá các giải pháp đó của doanh nghiệp. Cụ thể, nhiệm vụ của nghiên cứu hiện tại là: • Tổng quan cơ sở lý thuyết liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu để nhận dạng các tiền tố ảnh hưởng đến sẵn sàng và thực hiện TMĐT của doanh nghiệp • Xây dựng mô hình lý thuyết và cung cấp các lập luận hợp lý cho các giả thuyết về ảnh hưởng của mỗi tiền tố lên sẵn sàng và thực hiện TMĐT của doanh nghiệp 4 • Hiệu chỉnh và xây dựng các thang đo đạt độ tin cậy và giá trị cho các khái niệm trong mô hình lý thuyết • Kiểm định mô hình lý thuyết theo hệ mô hình thứ bậc và kiểm định các giả thuyết bằng các dữ liệu thực nghiệm thăm dò từ các doanh nghiệp TPHCM.
• Trình bày các hàm ý quản lý, gợi ý một số giải pháp có được từ kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao sự sẵn sàng và thực hiện TMĐT, và đánh giá các giải pháp đó của doanh nghiệp 1.4 TỔNG QUAN NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN Những đóng góp của luận án sẽ được trình bày chi tiết trong chương sáu. Sau đây là vài kết quả mới của luận án: • Xây dựng mô hình lý thuyết và hai mô hình cạnh tranh về tiền tố và kết quả của sự sẵn sàng TMĐT của doanh nghiệp, trong đó xét đến mối quan hệ đồng thời của nhiều yếu tố khác nhau • Kiểm định mô hình lý thuyết đối với các doanh nghiệp Việt nam • Cung cấp các thang đo cho các nghiên cứu thực nghiệm sau này tham khảo • Trình bày một số hàm ý quản lý, gợi ý các giải pháp nâng cao sự sẵn sàng và thực hiện TMĐT, và đánh giá các giải pháp đó của doanh nghiệp 1.5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN Theo quan điểm nhận thức học (epistemological), nghiên cứu này thuộc trường phái thực chứng (positivism) vì nó nhằm kiểm định lý thuyết khoa học được trình bày trong mô hình lý thuyết đề nghị ở chương hai. Trường phái thực chứng chấp nhận phương pháp luận dựa trên phương pháp suy diễn (Neuman, 2000). Nghiên cứu định lượng gắn liền với việc kiểm chứng các lý thuyết dựa trên nguyên tắc suy diễn.
Nghiên cứu định tính thường đi đôi với việc khám phá ra các lý thuyết khoa học (Ehrenberg, 1994). Qui trình nghiên cứu theo phương pháp suy diễn bắt đầu từ các 5 lý thuyết khoa học đã có để đề ra các giả thuyết về vấn đề nghiên cứu và dùng quan sát để kiểm định các giả thuyết này (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007). Tuy nhiên, trường phái kết hợp giữa định tính và định lượng dần dần được chấp nhận trong nghiên cứu khoa học (Tashakkori và Teddlie, 1998). Do đó, phần tổng quan về các khái niệm liên quan đến văn hóa và hành vi tổ chức như định hướng thị trường, định hướng học tập, tính đổi mới trong tổ chức gắn với quá trình nghiên cứu định tính giúp xây dựng một mô hình lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa bảy khái niệm nghiên cứu, trong đó có hai khái niệm bậc hai là định hướng thị trường và định hướng học tập.
Các giả thuyết của những mối quan hệ này được kiểm định thông qua bộ dữ liệu thực nghiệm với cở mẫu 328 trường hợp được thu thập từ các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Kỹ thuật thống kê chính được sử dụng để phân tích dữ liệu là phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha, phân tích yếu tố khám phá (EFA) bằng phần mềm SPSS 15.0; phân tích yếu tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình lý thuyết theo mô hình thứ bậc thông qua phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) bằng phần mềm AMOS 5.6 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ SỰ SẴN SÀNG 1.1 Thương mại điện tử Luận án giới thiệu ba định nghĩa TMĐT của tổ chức OECD (2002), Chaffey (2002), và Zwass (1998). Tổ chức OECD định nghĩa TMĐT1 theo hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, giao dịch điện tử là việc mua hay bán các sản phẩm hay dịch vụ, hoặc giữa các doanh nghiệp, các bà nội trợ, cá nhân, chính phủ, và các tổ chức công và tư nhân khác, được tiến hành qua các mạng máy tính.
Các sản phẩm và dịch vụ được đặt hàng qua các mạng này, nhưng việc thanh toán và giao nhận các sản phẩm hay dịch vụ sau cùng có thể được tiến hành trực tuyến hay không trực tuyến. Việc 1 Source: OECD IT Outlook 2002, chap.4 6 nhận hay đặt các đơn hàng dựa trên bất kỳ ứng dụng trực tuyến nào được sử dụng trong các giao dịch tự động hóa như các ứng dụng Internet, trao đổi dữ liệu điện tử, hệ thống điện thoại tương tác. Theo nghĩa hẹp, giao dịch điện tử là việc mua hay bán các sản phẩm hay dịch vụ, hoặc giữa các doanh nghiệp, các bà nội trợ, cá nhân, chính phủ, và các tổ chức công và tư nhân khác, được tiến hành qua Internet. Các sản phẩm hay dịch vụ được đặt qua Internet, nhưng thanh toán và giao nhận sản phẩm hay dịch vụ sau cùng được tiến hành trực tuyến hay không trực tuyến.