Chương 1: Giới thiệu luận văn. - Chương 2: Tổng quan lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu liên quan đến dề tài. - Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Thực trạng về nợ công tại các nước Đông Nam Á.
- Chương 5: Kết quả nghiên cứu - Chương 6: Kết luận và khuyến nghị. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Đóng góp về lý luận: Luận văn góp phần hệ thống các lý thuyết về nợ công và sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến nợ công. Bên cạnh đó, thông qua việc lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu gồm các biến được kế thừa từ những nghiên cứu trước và có sự điều chỉnh phù hợp với thực trạng vấn đề nợ công tại các nước Đông Nam Á nhằm ước lượng tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến tình hình nợ công tại các nước này. - Đóng góp về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định đưa ra những chính sách phù hợp tác động đến các yếu tố kinh tế vĩ mô trong từng giai đoạn khác nhau để có sự ảnh hưởng tích cực đến tình hình nợ công, góp phần ổn định và phát triển kinh tế một cách bền vững tại các nước này trong thời gian tới.
Page 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2. Tổng quan lý thuyết về nợ công 2.Khái niệm nợ công Các nhà nghiên cứu về kinh tế trên thế giới có các định nghĩa khác nhau về nợ công tùy thuộc vào mục đích, phạm vi sử dụng và thể chế chính trị của mỗi nước. Có thể lược khảo một số khái niệm phổ biến thường được sử dụng như sau: - Theo định nghĩa của World Bank, nợ công bao gồm các khoản nợ do Chính phủ vay và các khoản nợ được bảo lãnh bởi Chính phủ, bao gồm nợ của Chính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương. Trong đó: + Nợ của Chính phủ: bao gồm nợ trong nước, nợ nước ngoài của Chính phủ và các đại lý của Chính phủ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ chức chính trị trực thuộc Chính phủ và các đại lý của các tổ chức này, các doanh nghiệp Nhà nước.
+ Nợ được Chính phủ bảo lãnh: gồm những khoản nợ trong nước và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân do Chính phủ đứng ra bảo lãnh. - Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của khu vực công bao gồm khu vực tài chính công và khu vực phi tài chính công. Trong đó: + Khu vực tài chính công gồm: Các tổ chức tiền tệ (Ngân hàng trung ương, các tổ chức tín dụng Nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển) + Khu vực phi tài chính công gồm: Chính phủ, tỉnh thành phố, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính Nhà nước. - Theo Luật quản lý nợ công Việt Nam (2009), nợ công được chia thành 3 loại gồm: nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Trong đó: + Nợ của chính phủ: có nguồn gốc từ những khoản nợ trong và ngoài nước được vay bởi Chính phủ hoặc các khoản nợ khác được Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ Page 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Các khoản nợ do NHNN vay để thực thi chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn không nằm trong nợ Chính phủ. + Nợ được bảo lãnh bởi Chính phủ: là khoản nợ vay trong và ngoài nước của các công ty, tổ chức được Chính phủ bảo lãnh. + Nợ được vay bởi chính quyền địa phương: là khoản vay được ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành bởi Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Nếu xét theo khái niệm này, cần lưu ý là không tồn tại sự đồng nhất giữa: “Nợ chính phủ” và “nợ công”. Nợ chính phủ trong trường hợp này chỉ là một trong ba yếu tố cấu thành nên nợ công. Đối với cả ba khái niệm trên, tuy mỗi khái niệm dựa trên những cách tiếp cận khác nhau và thích hợp để sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể nhưng một cách chung nhất, có thể hiểu nợ công (nợ chính phủ hay nợ quốc gia) là tổng số tiền đi vay của chính phủ từ trung ương đến địa phương. Mục đích của các khoản vay này là để tài trợ cho các khoản chi tiêu ngân sách thâm hụt, do đó có thể hiểu nợ chính phủ là các khoản cộng dồn của thâm hụt ngân sách tại một thời điểm nhất định.
Thông thường để phản ánh giá trị các khoản nợ chính phủ, người ta thường sử dụng tỷ lệ phần trăm giữa nợ chính phủ và tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Khái niệm này làm rõ một số vấn đề về nợ công như sau: - Đồng nhất nợ chính phủ với nợ công và nợ quốc gia. - Khái niệm này được áp dụng tại phần lớn các quốc gia trên thế giới, những nước đi theo hướng kinh tế thị trường thực chất, không tồn tại thành phần doanh nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo kiểm soát trực tiếp của Nhà nước. - Thâm hụt Ngân sách Nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách Nhà nước, là tình trạng khi tổng chi tiêu của Ngân sách Nhà nước vượt quá các khoản thu trong cân đối (thu "không mang tính hoàn trả") của Ngân sách Nhà nước.
Page 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân loại nợ công Dựa vào các phương thức phân loại khác nhau, nợ công có thể được chia thành nhiều loại. Những phương thức phân loại nợ công chủ yếu dựa vào nguồn vay nợ, chủ thể nợ và kỳ hạn trả nợ cụ thể như sau: - Phân loại theo nguồn gốc địa lý: + Nợ trong nước: gồm các khoản vay từ nhà đầu tư trong nước. + Nợ nước ngoài: gồm các khoản vay từ nhà đầu tư nước ngoài.
Việc phân loại nợ theo nguồn gốc địa lý có tác dụng trong công tác quản lý nợ, giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế. Ngoài ra, việc phân chia thành các loại nợ trong và ngoài nước giúp kiểm soát và ổn định giá trị nội tệ của Việt Nam, vì các khoản nợ nước ngoài được vay chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Tuy nhiên, người ta thường chỉ chú ý đến các khoản nợ nước ngoài mà lại bỏ qua các khoản nợ từ các khoản vay nhà đầu tư trong nước khi tiến hành xem xét giá trị nợ công ở các nước, bao gồm Việt Nam. Điều này có thể dẫn đến kết quả thống kê không chính xác cho giá trị nợ công của một quốc gia, gây ra tình trạng đánh giá sai lầm về sự an toàn của nợ công để các nhà quản lý có thể hoạch định các chính sách ứng phó kịp thời và hợp lý.
- Phân loại theo chủ thể nợ: Nợ công phân loại theo tiêu chí chủ thể nợ gồm ba loại khác nhau theo quy định trong Luật quản lý nợ công Việt Nam (2009) đã được trình bày tại mục 2. - Phân loại theo kỳ hạn nợ: + Nợ ngắn hạn: các khoản nợ có thời hạn từ 1 năm trở xuống. + Nợ trung hạn: các khoản nợ có thời hạn từ 1 năm đến 10 năm. + Nợ dài hạn: các khoản nợ có thời hạn từ trên 10 năm.
- Phân loại theo hình thức vay nợ: + Vay nợ trực tiếp: Chính phủ của các quốc gia có thể phát hành trái phiếu để tiến hành vay nợ gián tiếp từ các tổ chức, cá nhân để bù đáp cho các khoản bội chi dẫn đến Page 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thâm hụt ngân sách. Trái phiếu chính phủ bao gồm nhiều loại như trái phiếu, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng tổ quốc và trái phiếu công trình. Chính phủ phát hành trái phiếu bằng nội tệ được xem như không có rủi ro tín dụng do Chính phủ có thể tăng thuế hoặc gia tăng lượng cung tiền bằng cách in tiền nhằm trả đầy đủ nợ và lãi vay khi đến hạn thanh toán. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ tự do chuyển đổi) là có rủi ro tín dụng do lượng dự trữ ngoại hối của Chính phủ có thể không đủ để trả gốc và lãi vay, bên cạnh đó việc phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái do sự biến động giá trị ngoại tệ của khoản nợ đó.
+ Vay nợ gián tiếp: Hình thức vay nợ trực tiếp của Chính phủ có được thực hiện thông qua việc vay vốn từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia như: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á,… Các khoản vay nợ này được các tổ chức trên tài trợ dưới một số hình thức phổ biến như: Vay viện trợ phát triển chính thức, vay có tính chất thương mại hay vay ưu đãi. Thông thường, các hình thức trực tiếp này được Chính phủ của các nước có xếp hạng tín dụng thấp sử dụng vì những nước này khó có khả năng vay nợ bằng phát hành trái phiếu chính phủ. Trong số các hình thức vay trực tiếp đã nêu, nguồn vay viện trợ phát triển chính thức là nguồn vốn bổ sung đều đặn nhất và có tầm quan trọng lớn đối với các nước đang phát triển. Nguồn vay này có thể nhận được dưới các thể thức: viện trợ song phương, viện trợ đa phương, viện trợ không hoàn lại hay viện trợ của tổ chức phi chính phủ.
Các đặc điểm của nợ công Các nhà nghiên cứu, các quốc gia hay tổ chức quốc tế có những cách định nghĩa cũng như phân loại nợ công khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu… Nhưng nhìn chung, nợ công có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Có tính chất ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước. Nhà nước có hai trách nhiệm trả nợ trực tiếp và gián tiếp. Trách nhiệm trực tiếp của Nhà nước đó là người đi vay vì vậy, cơ quan hay tổ chức đi vay đó sẽ có trách nhiệm trực tiếp đối với khoản Page 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.