chương 1 này, với mục đích khái quát về đề tài, đồng thời giúp người đọc có thể dễ dàng nắm bắt trọng tâm của luận văn. Tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài và các vấn đề thanh khoản đã xảy ra trước đây trên thế giới cũng như trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra những vấn đề cốt lõi của luận văn như mục tiêu, câu hỏi, đối tượng phạm vi, phương pháp và nội dung nghiên cứu, ý nghĩa và cuối cùng là kết cấu của luận văn. LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Giới thiệu Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu này bao gồm khái niệm về thanh khoản và cung cầu thanh khoản, cũng như vai trò của thanh khoản; đồng thời trình bày các phương pháp đo lường thanh khoản.
Bên cạnh đó, chương 2 này cũng sẽ trình bày lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương sau.1 Tổng quan lý thuyết về thanh khoản 2.1 Khái niệm thanh khoản “Trong tài chính, thanh khoản thể hiện mức độ mà một tài sản bất kì có thể dễ dàng chuyển đổi trên thị trường nhưng không tác động nhiều đến giá thị trường của tài sản đó” (Keynes, 1930). Chẳng hạn như tiền mặt là tài sản có thanh khoản cao, vì nó có thể dễ dàng bán, chuyển đổi mà giá trị gần như không thay đổi. “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng có thể tài trợ cho phần gia tăng tài sản, đồng thời đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không gây ảnh hưởng, tổn thất nào cho ngân hàng” (Bis, 2009). Theo Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) cho rằng “Thanh khoản được xem là khả năng các ngân hàng tại mọi điểm có thể đáp ứng các nghĩa vụ về sử dụng vốn khả dụng cho các hoạt động của ngân hàng như cho vay, thanh toán, chi trả tiền gửi,…” Theo Trương Quang Thông (2012), thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển đổi nhanh chóng với một mức chi phí thấp nhất có thể từ một tài sản bất kìthành tiền mặt.
Mặt khác, nếu định nghĩa tính thanh khoản đầy đủ hơn dưới cả hai khía cạnh từ tài sản và nguồn vốn, thì thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn ngay khi có nhu cầu vốn khác nhau với một mức chi phí hợp lí. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi có thời gian chuyển đổi nhanh với mức chi phí chuyển đổi thấp nhất có thể. Và một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi có khả năng huy động nhanh mà chi phí huy động thấp. 9 Có nhiều cách định nghĩa thanh khoản khác nhau, nhưng nhìn chung thanh khoản có thể được hiểu là khả năng chuyển đổi một tài sản bất kỳ sang tiền mặt một cách nhanh chóng với chi phí hợp lí, hay nói cách khác thanh khoản là khả năng ngân hàng có thể đáp ứng các nhu cầu tài chính phát sinh tại mọi thời điểm.2 Trạng thái thanh khoản Trên thực tế, đa số các nhu cầu thanh khoản của ngân hàng thường mang tính tức thời hoặc gần như vậy.
Có thể thấy hầu như các vấn đề về thanh khoản đều xuất hiện từ những yếu tố ngoài ngân hàng do những hoạt động tài chính của khách hàng. Nếu khách hàng thiếu hụt về nguồn vốn, thì họ thường có thể thực hiện hoạt động vay vốn ngân hàng hoặc các nhu cầu rút tiền gửi khỏi tài khoản. Theo đó, cả hai hoạt động trên đều buộc ngân hàng không chỉ phải đáp ứng các nhu cầu vốn tức thời từ khách hàng, mà còn phải tính toán cân đối giữa nhu cầu phải chi với lượng tiền hiện đang có, đồng thời phải chú ý cân đối với khả năng huy động vốn của ngân hàng trong tương lai. Do đó, điều cần thiết để đánh giá tính thanh khoản của ngân hàng thì cần phải xem xét vấn đề giữa cung cầu thanh khoản khả dụng của ngân hàng trong từng giai đoạn nhất định.
Cung thanh khoản Cung thanh khoản được hiểu là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng để đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ thanh toán của khách hàng tại mọi thời điểm. Khi một ngân hàng có nguồn cung thanh khoản lớn thì sẽ tăng khả năng chi trả của ngân hàng. Cung thanh khoản có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, từ nguồn tiền sẵn có hoặc có thể huy động trong một thời gian ngắn. Cầu thanh khoản Cầu thanh khoản trong lĩnh vực ngân hàng phản ánh các nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng phải có nghĩa vụ đáp ứng ngay lập tức hay trong khoảng thời gian ngắn.
Đồng thời, cầu thanh khoản cũng bao gồm các khoản sẽ làm giảm nguồn ngân quỹ của ngân hàng.1: Những hoạt động tiêu biểu hình thành nguồn cung cầu thanh khoản Nguồn cung thanh khoản Nguồn cầu thanh khoản Các khoản tiền gửi từ khách hàng Khoản trả tiền gửi cho khách Các khoản thu tín dụng hàng Nguồn thu từ thanh lý tài sản Thanh toán các khoản vay đến Vay/ mượn trên thị trường tiền tệ hạn Doanh thu từ cung cấp các sản Mua lại cổ phiếu quỹ phẩm dịch vụ của ngân hàng Chi phí phát sinh trong quá trình Phát hành cổ phiếu cung cấp sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng Các khoản cấp tín dụng hoặc đầu tư mới Thanh toán cổ tức bằng tiền cho các cổ đông Nguồn: Rose (2004) Trạng thái thanh khoản ròng Trong nền kinh tế, trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position – NLP) được tính toán bằng sự chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản của ngân hàng. Có công thức như sau: Trạng thái thanh khoản ròng= ∑ Cung thanh khoản - ∑ Cầu thanh khoản Thặng dư thanh khoản: ∑ Cung thanh khoản > ∑ Cầu thanh khoản (NLP > 0) Trạng thái này thể hiện nguồn cung thanh khoản đang lớn hơn cầu thanh khoản. Hay nói cách, trạng thái thanh khoản ròng đang dương, tức là ngân hàng đang sử dụng nguồn cung thanh khoản kém hiệu quả. Thặng dư thanh khoản thường xuất hiện khi nền kinh tế đình trệ khiến ngân hàng gặp khó trong việc tiếp cận thị trường, khách hàng và phát triển các sản phẩm, dịch vụ.
Ngoài ra, việc các ngân hàng không tối đa khả năng sinh lời của tài sản, hay khả năng quản lý còn yếu kém và quy mô ngân hàng còn nhỏ chưa thể đáp ứng 11 được việc nguồn vốn tăng trưởng quá nhanh là những nguyên nhân hình thành tình trạng thặng dư thanh khoản (Trương Quang Thông, 2012). Thâm hụt thanh khoản: ∑ Cung thanh khoản < ∑ Cầu thanh khoản (NLP < 0) Trạng thái thâm hụt thanh khoản là trạng thái trái ngược với thặng dư thanh khoản, khi đó cung thanh khoản nhỏ hơn cầu thanh khoản. Trường hợp thâm hụt thanh khoản có thể hiểu là ngân hàng sẽ gặp khó trong việc huy động nguồn cung vốn, dẫn đến không thể đáp ứng được các nhu cầu thanh toán của khách hàng. Thâm hụt thanh khoản có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sự tồn tại và phát triển kinh doanh của ngân hàng, làm mất hình ảnh của ngân hàng, mất sự tin tưởng của khách hàng và thậm chí ảnh hưởng chính sách chung của cả hệ thống ngân hàng,… Cân bằng thanh khoản: ∑ Cung thanh khoản = ∑ Cầu thanh khoản (NLP = 0) Cân bằng thanh khoản là trạng thái tổng cung và tổng cầu thanh khoản của ngân hàng bằng nhau.
Tuy nhiên, cân bằng thanh khoản là trạng thái rất khó có thể xảy ra trong thực tế.3 Vai trò của thanh khoản Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, hệ thống ngân hàng đóng một vai trò quan trọng, là một trong những công cụ trong việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô. Khi một ngân hàng không đảm bảo được cung thanh khoản làm phát sinh các vấn đề thanh khoản thì nó sẽ như một vết dầu loang, lan rộng rất nhanh với sự lan tỏa của hệ thống thông tin hiện nay thì không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng mà còn kéo theo rủi ro cho mọi lĩnh vực từ thị trường chứng khoán, bất động sản, lao động,… và cả toàn bộ nền kinh tế. Tất cả những điều này sẽ làm tác động mạnh mẽ cho thị trường tài chính, tác động trực tiếp đến từng bộ phận tham gia trong thị trường và toàn bộ xã hội. Điển hình như cuộc khủng hoảng tài chính 2008, nó bắt đầu từ hệ thống ngân hàng Mỹ và sau đó lan rộng ra trên toàn thế giới.
Vì vậy, có thể thấy vai trò của thanh khoản rất quan trọng cho sự bình ổn và phát triển 12 của hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế quốc gia. Theo Lê Minh Tấn (2017), vai trò của thanh khoản được thể hiện ở những nội dung sau: Đảm bảo vĩ mô nền kinh tế và hệ thống ngân hàng: Khi một ngân hàng đảm bảo được nguồn cung thanh khoản thì sẽ làm tăng khả năng đáp ứng tức thời của ngân hàng, cùng với đó sẽ hạn chế phát sinh hiệu ứng domino cho hệ thống ngân hàng và giảm thiểu ảnh hưởng đến thị trường tài chính, nền kinh tế. Đảm bảo hoạt động của ngân hàng: Một ngân hàng đảm bảo được nguồn cung thanh khoản sẽ góp phần ổn định hoạt động kinh doanh, tăng nguồn lợi nhuận, tăng độ uy tín và khả năng tiếp cận các thị trường, khách hàng. Bảo đảm sự tồn tại của ngân hàng: Mặc dù thanh khoản không quyết định chiến lược kinh doanh của ngân hàng, tuy nhiên là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng quyết định đến hình ảnh của ngân hàng, lòng tin của khách hàng và cũng có thể là yếu tố khai tử ngân hàng này khi rơi vào trạng thái thâm hụt thanh khoản.4 Phƣơng pháp đo lƣờng thanh khoản Dựa vào khe hở thanh khoản Năm 2006, trong bài nghiên cứu của mình thì Saunders và Cornett đã đề xuất sử dụng khái niệm “Khe hở thanh khoản” FGAP để tiến hành đo lường thanh khoản.
Theo Vodová (2011) thì “Khe hở thanh khoản” là sự chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn ở cả thời điểm hiện tại và tương lai. Công thức tính khe hở thanh khoản: Khe hở thanh khoản = Tổng dƣ nợ tín dụng trung bình – Tổng nguồn vốn huy động trung bình Có thể thấy phương pháp dựa vào khe hở thanh khoản là một trong những phương pháp phù hợp để đo lường thanh khoản, đồng thời chỉ số khe hở thanh khoản còn là chỉ số phản ánh cơ bản nhất về tính thanh khoản của các ngân hàng (Đặng Văn Dân, 2015).