Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến quyết định vay vốn của KHCN tại Ngân hàng Agribank Bình Dương và chương này cũng trình bày về các mô hình nghiên cứu trước đây để làm cơ sở cho các lập luận trong luận văn, từ đó đưa ra các yếu tố chính tác động đến quyết định vay vốn của KHCN tại Ngân hàng Agribank Bình Dương, đồng thời tác giả cũng đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.1 Cơ sở lý thuyết về cho vay cá nhân 2.1 Khái niệm cho vay cá nhân Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng năm 2017, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đối với KHCN các khoản vay là nhằm tài trợ cho nhu cầu vay vốn của cá nhân, hộ gia đình. Nhu cầu vốn của cá nhân, hộ gia đình chủ yếu là nhu cầu về cư trú: sửa chữa, xây dựng nhà cửa; nhu cầu mua sắm tiện nghi: ô tô, xe máy…; nhu cầu chi tiêu hằng ngày; nhu cầu chi đào tạo, y tế, giáo dục; nhu cầu phát triển kinh doanh quy mô hộ gia đình… 2.2 Phân loại cho vay KHCN Phân loại theo phương thức cho vay - Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay mà mỗi một lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng phải hoàn tất thủ tục cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.
Theo đó, mỗi một hợp đồng tín dụng có thể giải ngân một hoặc nhiều lần, tùy vào nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng; tuy nhiên, tổng số tiền trên giấy nhận nợ không vượt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng. Hình thức tín dụng này áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn một lần duy nhất, hoặc các khách hàng 8 có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Với những khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên hoặc phụ thuộc nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh thì với hình thức cho vay từng lần sẽ không mang lại hiệu quả cao do mất quá nhiều thời gian cho các thủ tục vay vốn và ký hợp đồng tín dụng. Trong trường hợp này, cho vay theo hạn mức tín dụng, sẽ là một lựa chọn sáng suốt để gia tăng sự chủ động và linh hoạt trong nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng.
Với hình thức này, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng tùy thuộc vào mức thu nhập hoặc chu kỳ sản xuất kinh doanh và được duy trì trong một thời gian nhất định. Trong thời gian này, khách hàng được chủ động rút vốn trong hạn mức cho phép mà không bị giới hạn về tổng số tiền đã được giải ngân trước đó. Phân loại theo thời gian - Cho vay KHCN ngắn hạn: là những khoản cho vay ngân hàng cấp cho khách hàng có thời hạn trong vòng 12 tháng trở xuống. Mục đích chủ yếu của khoản cho vay này là bổ sung nguồn vốn thiếu hụt của các hộ kinh doanh hoặc những nhu cầu tiêu dùng có thời gian ngắn hạn.
- Cho vay KHCN trung hạn: là những khoản cho vay ngân hàng cấp cho khách hàng có thời hạn trên 12 tháng cho đến 60 tháng (5 năm). Mục đích chủ yếu của khoản vay này là để mua sắm các tài sản cố định, sửa chữa nhà, mua phương tiện vận tải. - Cho vay KHCN dài hạn: là những khoản cho vay có thời hạn trên 60 tháng (5 năm). Những khoản vay dài hạn này nhằm đáp ứng nhu cầu tương tự các khoản vay trung hạn tuy nhiên có thời gian dài hơn, thường KHCN áp dụng cho các khoản vay mua nhà, sửa nhà… Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng - Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba hoặc TSĐB hình thành trong tương lai.
Hiện nay các khoản vay lớn của KHCN đều được áp dụng loại cho vay này. - Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là loại vay không có tài sản thế 9 chấp, khi đó ngân hàng sẽ dựa vào các tiêu chí, điều kiện nhất định để cấp tín dụng cho khách hàng. Với loại tín dụng này, ngân hàng thương mại có quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn khách hàng để cho vay không có TSĐB. Thông thường chỉ có những khách hàng vay có uy tín cao, quan hệ lâu dài, thường xuyên với ngân hàng, phương án vay có hiệu quả kinh tế, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn, ngoài ra người vay còn phải cam kết thực hiện bảo đảm bằng tài sản khi tổ chức tín dụng yêu cầu thì mới được ngân hàng chấp nhận cho vay không có đảm bảo.
(Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại, tái bản tháng 8/2009 của PGS.TS Lê Văn Tề) 2.3 Những đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân Ngoài những đặc điểm chung của tín dụng thì cho vay KHCN mang những nét khác biệt so với các loại hình cho vay doanh nghiệp như sau: Thứ nhất, quy mô các món vay thường nhỏ, nhưng số lượng các món vay lại lớn. Mục đích vay của KHCN chủ yếu như sau: - Bổ sung vốn kinh doanh. Thường các hoạt động sản xuất kinh doanh này đều không có quy mô lớn, bên cạnh đó hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tương đối nên chỉ bổ sung phần thiếu tương đối nhỏ. - Phục vụ nhu cầu tiêu dùng hằng ngày.
Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà, xe, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học. Đây đều là những khoản vay nhỏ lẻ tuy nhiên do đối tượng khách hàng là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao, thu nhập trung bình và kể cả người có thu nhập thấp nên nhu cầu tín dụng khá đa dạng và phong phú. Thứ hai, cho vay KHCN gây tốn kém nhiều chi phí. Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng nên sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các công tác như là mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng KHCN ở từng địa bàn, khu vực, phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ cũng như các 10 chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác phí hỗ trợ CBTD… Vì vậy mà lãi suất của tín dụng KHCN thường cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp.
Đối với các khoản vay cá nhân, do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng thường không đầy đủ và khó thu thập nên ngân hàng thường tốn nhiều chi phí cho việc xác định thẩm định và xét duyệt vay. Thứ ba là cho vay KHCN rủi ro cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Ngoài những lý do chung của cho vay ngân hàng thì các khoản vay cá nhân còn có những rủi ro xuất phát từ bản thân khách hàng như điều kiện tài chính của cá nhân hay hộ gia đình có thể thay đổi bất lợi rất nhanh do bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp hay các bi kịch gia đình. Thứ tư, Chất lượng thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao.
Khi thẩm định cho vay thì thông tin này là một yếu tố cực kỳ quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tương đối thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin được công khai như: báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín nhiệm, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với đối tác… Ngược lại, đối với KHCN, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ, rõ ràng và chính xác dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Thứ năm, KHCN chịu trách nhiệm vô hạn trên số tiền vay. Với khách hàng doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân) khi xảy ra các biến cố không mong muốn như phá sản, giải thể thì họ chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trên vốn điều lệ đã đăng ký trước đó.
Điều này dẫn đến tình trạng là ngân hàng có thể sẽ không thu được nợ của mình nếu nguồn vốn của doanh nghiệp không đủ để trả nợ. Ngược lại, trong trường hợp xảy ra biến cố, KHCN phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với các chủ nợ nói chung và ngân hàng nói riêng. (Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại, tái bản tháng 8/2009 của PGS.TS Lê Văn Tề) 11 2.4 Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân + Đối với cá nhân, hộ gia đình Ngày nay, khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được cải thiện, người dân ngày càng có nhu cầu cho cuộc sống cao hơn, đặc biệt là nhu cầu về nhà ở, phương tiện, đi lại và mua sắm vật dụng gia đình, chính vì vậy cho vay đối với khách hàng cá nhân sẽ hỗ trợ cho họ để thực hiện các dự định tiêu dùng khi chưa đủ khả năng tài chính. Nhu cầu chi tiêu được đáp ứng sẽ giúp cho người lao động được thỏa mãn, tái tạo sức lao động, kích thích người dân lao động làm việc tích cực, sáng tạo, năng suất cao.
Mở rộng cho vay khách hàng cá nhân qua các Ngân hàng sẽ làm giảm đi các hiện tượng cho vay nặng lãi, giúp những người nghèo giảm bớt gánh nặng trong việc trả lãi tiền vay mượn. Qua hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, người dân có thể tiết kiệm tích lũy để đầu tư, phát triển, như: mua nhà, xây dựng, sửa chữa nhà ở, du học, mua xe, giải trí,… đời sống người dân được nâng cao. + Đối với Ngân hàng: Hiện nay sự cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt nhất là tại các đô thị, nơi tập trung số lượng lớn các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn và mật độ ngân hàng dày đặc.