chương 1, tác giả đã nêu tổng nghiên cứu của đề tài bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của đề tài. Các chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay tại Ngân hàng. Cấu trúc đề tài gồm 5 chương, để đi sâu vào nội dung chính của bài nghiên cứu, tác giả trình bày trong các chương từ chương 2 cho tới chương 5 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Theo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng (2016): “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Hay “Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trên thị trường tài chính nói riêng. Nó là một doanh nghiệp đặc biệt, chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận” (PGS. TS Lê Thị Tuyết Hoa - TS Đặng Văn Dân và tập thể tác giả, 2017).
Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể thấy Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với các nghiệp vụ chủ yếu là nhận tiền gửi và cho vay. Ngoài ta, hoạt động của NHTM còn có dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác như chuyển tiền, bảo lãnh, ủy thác….2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại Khái niệm cho vay: Theo Thông tư 39/2016/TT – NHNN do Thống đốc NHNNVN ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác dịnh trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. 6 Một cách khái quát, hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động kinh doanh thông qua sự chuyển giao có thời hạn một lượng giá trị từ phía ngân hàng cho người đi vay, với sự cam kết hoàn trả cả gốc và lãi từ phía người đi vay khi đáo hạn. Sơ đồ khái quát khái niệm cho vay Nguồn: Giáo trình tiền tệ - Ngân hàng (PGS.
Nguyễn Đăng Dờn, 2004) Vai trò hoạt động cho vay: Đối với ngân hàng: cho vay là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng, nó chiếm khoảng từ một phần hai đến hai phần ba tổng thu nhập của ngân hàng. Nó đảm bảo cho ngân hàng thực hiện đầy đủ chức năng trung gian tài chính của mình đối với nền kính tế. Do vậy, hoạt động cho vay của NH đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của hệ thống NHTM. Đối với khách hàng: với vai trò chủ đạo cung cấp vốn cho nền kinh tế, các ngân hàng hỗ trợ và tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức kinh tế tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng.
Bên cạnh đó, nguồn vốn vay từ ngân hàng từ lâu đã trở thành một nguồn vốn thường xuyên và quan trọng cho doanh nghiệp, quyết định đến sự tồn tại và góp phần phát triển sản xuất, hoạt động kinh doanh của hầu hết doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế: ngân hàng với vai trò là trung gian tài chính cùng chức năng tạo tiền nên thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng đóng vai trò là cầu nối vốn cho nền kinh tế giữa người thừa vốn và người cần vốn để đầu tư. Qua đó góp phần duy trì sự tồn tại và phát triển của cả nền kinh tế. Các phƣơng thức cho vay: Theo Điều 27 Thông tư 39/2016/TT – NHNN do Thống đốc NHNNVN ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh 7 ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng cũng đã đề cập đến các phương thức cho vay như sau: Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay.
Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. Cho vay lưu vụ: Là việc tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. Theo đó, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp. Cho vay theo hạn mức: Tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong hạn mức cho vay, tổ chức tín dụng thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, tổ chức tín dụng xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này. Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 (một) năm.
Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Mức thấu chi tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm. Cho vay quay vòng: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 01 (một) 8 tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng. Cho vay tuần hoàn (rollover): Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay ngắn hạn đối với khách hàng với điều kiện: - Đến thời hạn trả nợ, khách hàng có quyền trả nợ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ thêm một khoảng thời gian nhất định đối với một phần hoặc toàn bộ số dư nợ gốc của khoản vay; - Tổng thời hạn vay vốn không vượt quá 12 tháng kể từ ngày giải ngân ban đầu và không vượt quá một chu kỳ hoạt động kinh doanh; - Tại thời điểm xem xét cho vay, khách hàng không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng; - Trong quá trình cho vay tuần hoàn, nếu khách hàng có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng thì không được thực hiện kéo dài thời hạn trả nợ theo thỏa thuận.
Quy trình cho vay: Quy trình cho vay của ngân hàng TMCP tuân theo quy theo quy trình chung trong cả hệ thống ngân hàng TMCP, quy định rõ từng bước của một khoản vay cũng như những nhiệm vụ của các cá nhân, bộ phận có liên quan trong suốt cả quá trình vay vốn. Quy trình cho vay được đánh giá là khá chặt chẽ và hợp lý khi các bước thực hiện có liên kết mật thiết với nhau, có tính định hướng rõ ràng nhằm giảm thiểu tối đa các rủi ro tín dụng từ đó nâng cao chất lượng khoản vay và hiệu quả cho vay. Quy trình cho vay cũng chính là quy trình cấp tín dụng được thể hiện qua sơ đồ 2.2, một khoản tín dụng từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc được thực hiện qua 6 giai đoạn và các giai đoạn có mối quan hệ qua lại hỗ trợ cho nhau. Kết quả của giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn tiếp theo và tác động cùng chiều đến chất lượng công việc của các giai đoạn sau.
Cụ thể: Giai đoạn thứ nhất tạo nguồn thông tin bắt đầu cho giao dịch của khách hàng với ngân hàng, hình thành những cơ sở pháp lý ban đầu cho quan hệ tín dụng sau này. 9 Giai đoạn thứ hai đặc biệt quan trọng vì quyết định chất lượng của khoản tín dụng. Nội dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến khách hàng bao gồm thông tin về tư cách của khách hàng; năng lực của khách hàng (khách hàng có đủ năng lực pháp lý, năng lực tài chính hay năng lực quản trị điều hành kinh doanh hay không?); sức mạnh tài chính và hiệu quả tín dụng của khách hàng (khách hàng có khả năng tạo ra một dòng tiền để có thể thực hiện các nghĩa vụ hoàn trả nợ cho ngân hàng theo đúng cam kết hay không? Hay khách hàng có thể hoàn trả nợ cho khách hàng từ những nguồn nào?); các điều kiện kinh doanh; tài sản đảm bảo dự phòng của khách hàng… Giai đoạn thứ ba “quyết định tín dụng” chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng nhất trong toàn bộ qui trình tín dụng vì việc ra quyết định chính xác giúp cho ngân hàng tránh được những bất trắc hoặc thiệt hại ngoài mong đợi có thể xảy ra sau này. Giai đoạn thứ tư chỉ được thực hiện khi ngân hàng chấp thuận cấp tín dụng cho khách hàng.
Đây là giai đoạn thể hiện hàng loạt các thao tác nghiệp vụ ở các vị trí khác nhau tại ngân hàng. Tại giai đoạn này, tổ chức thực hiện đồng bộ và hiệu quả hay không phụ thuốc rất nhiều vào kết quả của giai đoạn ba và trình độ tác nghiệp và kiểm soát của nhân viên và nhà quản trị ngân hàng.