Chương 1: Giới thiệu Chương này trình bày lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài, cơ sở lý thuyết của đề tài, tổng quan các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này giới thệu quy trình nghiên cứu, cách chọn mẫu, xác định kích thước mẫu, quá trình thu thập dữ liệu và kỹ thuật phân tích dữ liệu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích và thảo luận đánh giá kết quả nghiên cứu 123doc 7 - Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Khái quát những kết quả quan trọng của đề tài. Từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao ý định của người dân trong việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.” 123doc 8 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt Ngân hàng thế giới (2011) cho rằng chất thải (waste) là những thứ không được sử dụng cho mục đích con người. Nó là những chất liệu đã được sử dụng và không còn giá trị sử dụng sau những hoạt động sản xuất hay tiêu dùng. Ngân hàng thế giới (2011) cho rằng chất thải rắn (soild waste) được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hoặc không muốn dùng nữa. Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu thì chất thải rắn được định nghĩa là “chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”.
Chất thải rắn được phát sinh từ các nguồn khác nhau. Các nguồn phát sinh chất thải rắn chủ yếu từ các hoạt động: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thương mại, sinh hoạt thường ngày, bệnh viện, trường học…. “Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại”(OECD, 2013). Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định “chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người”.
Việc quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt không những gây ô nhiễm môi trường mả còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt được thể hiện ở những mặt sau: - Ảnh hưởng đối với sức khỏe con người: Trong thành phần rác thải sinh hoạt, thông thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn. Loại rác này rất dễ 123doc 9 phân hủy, lên men, bốc mùi hôi thối. Rác thải tồn đọng lâu ngày sẽ gây ảnh hưởng đối với sức khỏe người dân, cộng đồng xung quanh dặc biệt là người dân sống gần các khu vực bãi rác, bãi chông lấp chất thải.
Các bãi chôn lấp chất thải là những nguồn mang dịch bệnh hoặc là nơi sinh sống của nhiều vật chủ trung gian gây bệnh cho con người như: ruồi, muỗi, chuột… Ngoài ra, hai thành phần chất thải rắn được cho rằng cực kỳ nguy hiểm là kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy. Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm, nguồn nước gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người. - Ảnh hưởng cúa chất thải rắn đến môi trường đất: Nếu chất thải không được chôn lấp đúng theo quy trình kỹ thuật, nó sẽ làm ô nhiễm đến môi trường đất, nước mặt, nước ngầm, từ đó dễ dẫn đến khả năng gây ô nhiễm cây trồng và nước uống của con người. Một số tác động của chất thải tới môi trường như: làm thay đổi tính chất, độ pH của đất; chất thải còn là nơi sinh sống, phát triển của các loài côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc…gây bệnh truyền nhiễm cộng đồng.
- Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí: việc đốt rác không được kiểm soát ở những bãi rác có thể gây ra ô nhiễm không khí nghiêm trọng và cũng sẽ gây ảnh hưởng đến những sinh vật sống; rác thải hữu cơ phân hủy tạo và mùi và các khí độc hại; khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng, các chất độc hại lẫn trong rác.2 Ý định và hành vi phân loại chất thải rắn sinh hoạt Ý định là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai. Ý định thực hiện hành vi là mức độ dự định thực hiện hành vi của mỗi người (Fishbein & Ajen, 1975), là dấu hiệu sẵn sàng của mỗi người để thực hiện một hành vi cho trước và nó được xem là như là tiền đề trực tiếp để dẫn đến hành vi (Ajen, 1991). 123doc 10 Thái độ hướng tới hành vi, ý định thực hiện hành vi và hành vi thực tế là 3 khái niệm được sử dụng trong mô hình lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991). Trong đó, ý định thực hiện hành vi là nhân tố trung tâm dẫn đến hành vi thực tế, ý định thực hiện hành vi chịu sự tác động của thái độ hướng tới hành vi.
Ý định hành động là những gì chúng ta nghĩ chúng ta sẽ hành động, hay còn có thể được định nghĩa là quyết định hành động cho thấy được hành vi của cá nhân (Samin và cộng sự, 2012). Theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 thì “phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có quy trình khác nhau”. “Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn là tách chất thải rắn sinh hoạt thành nhiều loại khác nhau nhằm thu hồi lại các thành phần có ích trong chất thải rắn sinh hoạt mà chúng có thể được sử dụng để chế biến thành các sản phẩm mới dưới dạng vật chất hoặc năng lượng, phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn là quá trình tách riêng các loại rác thải theo đặc tính của chúng trước khi thải bỏ vào các thùng chứa khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả cho các quá trình xử lý tiếp theo.” Như vậy, ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn được xem là giai đoạn diễn ra trước hành vi, được giả định như nhân tố động lực để đạt được hành vi phân loại chất thải rắn.3 Lợi ích của việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt “Việc phân loại chất thải rắn góp phần làm tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái sử dụng dẫn đến hạn chế việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên sơ khai, giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển, xử lý và do đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển, xử lý chất thải, tiết kiệm diện tích cho việc chôn lấp rác.
Đồng thời khuyến khích cho ngành nghề tái chế vật liệu, qua đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho nhiều lao động.” 123doc 11 “- Lợi ích về kinh tế: Việc phân loại chất thải góp phần tạo nguồn nguyên liệu sạch cho sản xuất phân hữu cơ. Tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái sử dụng dẫn đến hạn chế việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên sơ khai, giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển, xử lý và do đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển, xử lý chất thải.” “- Lợi ích về môi trường: Việc phân loại chất thải rắn tại nguồn còn mang lại nhiều lợi ích đối với môi trường. Khi giảm được khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp, khối lượng nước rỉ rác sẽ giảm. Nhờ đó, các tác động tiêu cực đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như: giảm rủi ro trong quá trình xử lý nước rỉ rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt.” “Diện tích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà kính do khí của bãi chôn lấp.
Việc tận dụng các chất thải rắn có thể tái sinh tái chế giúp bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thay vì khai thác tài nguyên để sử dụng, chúng ta có thể sử dụng các sản phẩm tái sinh tái chế này như một nguồn nguyên liệu thứ cấp.” “- Lợi ích xã hội : Phân loại chất thải rắn tại nguồn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường. Đồng thời khuyến khích cho ngành nghề tái chế vật liệu, qua đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho nhiều lao động. Các mô hình lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action –TRA) “Lý thuyết hành động hợp lý đã được đề xuất bởi Ajzen và Fishbein vào năm 1975.
Lý thuyết này mô tả quá trình tâm lý phía sau hành vi của con người có ý thức và nhằm mục đích khám phá các yếu tố quyết định của hành vi (Fishbein và Ajzen, 1980). Theo thuyết này, ý định hành vi là yếu tố quyết định hành vi hành động. Chính vì thế, theo Ajzen và Fishbein (1975) nghiên cứu hành vi trước tiên phải nghiên cứu ý định hành vi để tìm ra được vấn đề cần giải quyết.” 123doc 12 “Ý định hành vi là một mục đích cụ thể của con người trong việc thực hiện một hoặc một chuỗi các hành động và trong lý thuyết TRA, ý định này bị ảnh hưởng bởi thái độ của cá nhân và chuẩn chủ quan của cá nhân đó.” “Thái độ là mức độ đánh giá về một hành động tích cực hay tiêu cực của một cá nhân. Thái độ được hình thành bởi hai yếu tố: niềm tin cá nhân và kết quả hành động của hành vi, sau đó là đánh giá về kết quả này.
Con người thường cân nhắc các kết quả khác nhau trước khi thực hiện một vấn đề và sẽ chọn hành động mà theo họ sẽ dẫn đến một kết quả như mong đợi.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý –TRA Nguồn: Ajzen và Fishbein (1975) “Mỗi cá nhân sẽ có cách ứng xử sao cho phù hợp với đời sống xã hội, được gọi là chuẩn chủ quan. Mỗi cá nhân đều quan tâm đến việc người khác sẽ đánh giá và suy nghĩ về hành động của mình như thế nào.