Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Tóm lại, trong chương này đã nêu lên lý do cho việc chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung của đề tài. Để làm cơ cở cho những chương tiếp theo trong đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết Tỷ giá hối đoái thực: là tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã được điều chỉnh cho phù hợp với các mức giá tương đối giữa hai nước (Keith Pilbeam, 1992).
𝑒×𝑝 𝜀= 𝑝∗ Trong đó: 𝜀 là tỷ giá hối đoái thực, e là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, p là mức giá hàng hóa trong nước, và p* là mức giá hàng hóa nước ngoài. Khi 𝜀 tăng nghĩa là đồng nội tệ tăng giá. Theo một số lý thuyết thì tỷ giá hối đoái thực sẽ không thay đổi theo thời gian. Ví dụ như lý thuyết ngang giá sức mua, khi chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia xuất hiện thì tỷ giá hối đoái danh nghĩa sẽ thay đổi để quay về điểm cân bằng ban đầu; hoặc lý thuyết ngang giá lãi suất, lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế cho rằng chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia xuất hiện thì tỷ giá danh nghĩa cũng sẽ thay đổi sao cho tỷ suất sinh lợi thực trên mỗi đồng tiền đều như nhau.
Nhưng trên thực tế thì tỷ giá hối đoái thực có sự thay đổi, một phần do các lý thuyết không duy trì liên tục, một phần do các nhân tố tác động khác. Cho nên, việc xác định nhân tố nào ảnh hưởng tới tỷ giá thực là một vấn đề rất quan trọng, bởi vì khi hiểu biết được các yếu tố tác động thì các nhà điều hành chính sách mới có thể đưa ra các quyết định đúng với định hướng điều hành nền kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, một số lý thuyết có thể giải thích cho các yếu tố tác động đến tỷ giá thực sẽ được trình bài. Tỷ lệ thương mại (Terms of trade) Tỷ lệ thương mại dùng để đánh giá tiềm lực kinh tế của quốc gia trong thương mại quốc tế, ảnh hưởng của thương mại quốc tế đến thu nhập quốc gia tính theo hàng hóa nhập khẩu của nước ngoài và đánh giá sự phụ thuộc của sản xuất trong nước đối với hàng hóa nhập khẩu.
Như chúng ta biết, tỷ lệ thương mại có rất nhiều loại, nhưng trong phạm vi bài nghiên cứu tỷ lệ thương mại được đề cập là tỷ lệ thương mại hàng hóa, được tính bằng cách lấy chỉ số giá hàng xuất khẩu chia cho chỉ số giá hàng nhập khẩu. Biến động của tỷ lệ thương mại phản ánh thay đổi thu nhập của quốc gia tính theo hàng hóa nhập khẩu của nước ngoài. Khi tỷ lệ thương mại giảm, đồng nghĩa với thu nhập quốc gia giảm vì cần phải tăng thêm hàng xuất khẩu để mua được một đơn vị hàng nhập khẩu. Và khi giá hàng xuất khẩu tăng dẫn tới tỷ lệ thương mại tăng, nghĩa là với một lượng hàng xuất khẩu nhất định có thể đổi lấy một lượng hàng nhập khẩu lớn hơn.
Tuy nhiên, giá hàng xuất khẩu tăng có thể dẫn tới nhu cầu của bên ngoài đối với hàng xuất khẩu giảm, do vậy trong khi một đơn vị hàng xuất khẩu có thể đổi lấy nhiều hàng nhập khẩu hơn thì tổng giá trị hàng xuất khẩu có thể giảm và kéo theo khả năng nhập khẩu của quốc gia giảm. Tỷ lệ thương mại của hàng hóa của các nước đang phát triển có xu hướng giảm theo thời gian. Do nhu cầu của các nước đang phát triển đối với sản phẩm công nghiệp xuất khẩu từ các nước phát triển có xu hướng tăng nhanh hơn nhu cầu của các nước phát triển đối với sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu từ các nước đang phát triển. Nếu tăng năng suất tại các nước phát triển và các nước đang phát triển đều được phản ánh dưới dạng giá cả hàng hóa thấp hơn, khi đó tỷ lệ thương mại của các nước đang phát triển sẽ tăng theo thời gian.
Tăng năng suất trong nông nghiệp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhìn chung thấp hơn trong công nghiệp, vì vậy chi phí sản xuất và giá cả của sản phẩm công nghiệp giảm mạnh hơn so với sản phẩm nông nghiệp. Các nước đang phát triển chủ yếu xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, ngược lại, các nước phát triển chủ yếu xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu thô. Vì vậy tỷ lệ thương mại của hàng hóa của các nước phát triển sẽ giảm. Dựa vào những phân tích trên về tỷ lệ thương mại, chúng ta có thể thấy việc tỷ lệ thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập quốc gia, điều hòa hàng hóa xuất nhập khẩu dẫn đến thay đổi trong cung cầu ngoài tệ, thay đổi sức mạnh của nền kinh tế gây tác động đến tỷ giá hối đoái.
Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) Lý thuyết ngang giá sức mua được dùng để giải thích sự biến động của tỷ giá hối đoái khi có sự thay đổi của lạm phát, theo PPP thì tỷ giá thực giữa hai đồng tiền sẽ ở tại vị trí cân bằng, khi sức mua của các quốc gia có sự chênh lệch thì tỷ giá danh nghĩa sẽ điều chình để duy trì ngang giá sức mua. Khi mức giá trong nước tăng (lạm phát) so với nước khác, thì tỷ giá hối (với nước so sánh tỷ lệ lạm phát) đó phải tăng (đồng tiền nước đó sụt giá) để quay về điểm cân bằng như lý thuyết ngang giá sức mua đã nêu. Để lý thuyết ngang giá sức mua đúng thì cần một số giả định như hàng rào mậu dịch và thuế quan không đổi, phí vận chuyển không đổi… ngoài ra, lý thuyết ngang giá sức mua có một số điểm hạn chế, và không duy trì liên tục như: không tính đến các loại hàng hóa phi thương mại, không có hàng thay thế cho hàng nhập khẩu,… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lý thuyết Balassa-Samuelson Theo lý thuyết Balassa - Samuelson thì chênh lệch năng suất lao động là nhân tố chính trong mô hình.
Mô hình gắn với sự dịch chuyển của tỷ giá thực trong dài hạn, kiểm định xem sự dịch chuyển của tỷ giá thực có đúng như lý thuyết PPP phát biểu hay không. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng năng suất lao động của các nước phát triển cao hơn so với các nước đang phát triển. Sự khác biệt trong năng suất lao động xảy ra phần lớn trong khu vực hàng hoá ngoại thương (như ngành sản xuất, chế tạo…), còn khu vực hàng hoá phi ngoại thương thì không có sự chênh lệch nhiều. Nhưng do cạnh tranh trên thị trường lao động nên mức lương trong khu vực hàng hoá ngoại thương và phi ngoại thương là như nhau tại mỗi quốc gia.
Điều này có nghĩa là, ở các nước giàu hàng hóa phi ngoại thương đang có mức giá cao hơn ở các nước nghèo, vì năng suất lao động không cao hơn nước nghèo mà lại được trả lương bằng khu vực ngoại thương. Dựa trên lập luận trên, khi một nước có năng suất lao động ở khu vực ngoại thương cao hơn (nước còn lại), dẫn đến tiền lương khu vực ngoại thương và phi ngoại thương đều tăng cao hơn (nước còn lại), nhưng thực chất năng suất khu vực phi ngoại thương giữa hai quốc gia không khác biệt mấy, điều này làm cho mức giá khu vực phi ngoại thương bị thổi phồng lên làm cho thu nhập thực tế của quốc gia có năng suất cao hơn giảm. Vì vậy tỷ giá thực của quốc gia có năng suất lao động khu vực ngoại thương tăng cao hơn sẽ bị định giá cao hơn. Ngang giá lãi suất và Hiệu ứng Fisher quốc tế Lãi suất trong nước của một quốc gia có liên quan đến tỷ giá và cũng là một nhân tố tác động đến tỷ giá, vì khi Ngân hàng Trung ương một quốc gia điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nội tệ, thì sẽ làm tăng cầu về nội tệ, vì những người trong nước có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 ngoại tệ sẽ bán ngoại tệ lấy nội tệ để gửi vào ngân hàng nhằm hưởng mức lãi suất cao, hoặc một số nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm lợi nhuận chênh lệch lãi suất.
Điều này sẽ làm cho nội tệ được giá hơn. Nhưng trong trường hợp lãi suất tiền gởi nội tệ tăng chỉ do yếu tố trượt giá (lạm phát tăng), thì sẽ không làm cho giá trị nội tệ tăng, mà chỉ là sự bù đắp lại mức giảm giá của nội tệ. Trong trường hợp này, cung cầu không thay đổi và tỷ giá không biến động. Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, nếu hai quốc gia có sự chênh lệch về lãi suất thì tỷ giá kỳ hạn sẽ thay dổi để bù đắp đúng mức chênh lệch đó.
Tức là nhà đầu tư không thể tìm kiếm được tỷ suất sinh lợi vượt trội từ kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa bằng cách chuyển đầu tư sang nước có lãi suất cao hơn, khi xuất hiện ngang giá lãi suất thì thị trường hối đoái sẽ không tồn tại kinh doanh chênh lệch lãi suất có phong ngừa. Tuy nhiên lý thuyết ngang giá lãi suất này lại được xây dựng dựa trên một số giả định và bỏ qua rủi ro, chi phí khi đầu tư ra nước ngoài nên độ chính xác chỉ có tính tương đối, và tỷ giá hối đoái tương lai phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chứ không chỉ có riêng lãi suất, nhưng lý thuyết ngang giá lãi suất là một lý thuyết quan trọng giúp lý giải một cách khái quát sự chênh lệch lãi suất sẽ tác động đến tỷ giá như thế nào. Hiệu ứng Fisher quốc tế giải thích chênh lệch lãi suất sẽ làm thay đổi tỷ giá theo thời gian như thế nào. Theo hiệu ứng Fisher quốc tế, lãi suất danh nghĩa bao gồm hai phần: lãi suất thực và một chỉ số lạm phát dự kiến, mà chênh lệch lạm phát dự kiến giữa hai nước sẽ được bù đắp bằng thay đổi tỷ giá (theo PPP) vì thế tỷ suất sinh lợi thực của mỗi đồng tiền là như nhau, và không thể tìm kiếm tỷ suất sinh lợi vượt trội bằng cách đầu tư ra nước ngoài.
Trong thực tế, lãi suất thực giữa các quốc gia hiếm khi bằng nhau vì nhiều yếu tố như: rủi ro của mỗi quốc gia là khác nhau, cung cầu vốn, hạn chế quá trình đầu tư quốc tế hay những can thiệp của chính phủ làm hạn chế sự mở cửa tài khoản vốn.