Chương 1 tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài, các nội dung chính được trình bày tổng quát như lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như những đóng góp mới của nghiên cứu. Chương 2 tác giả trình bày bao gồm các nội dung như cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố ảnh hưởng đến TTTD của các NHTM. Chương này giới thiệu sơ lược một số nghiên cứu trước đây trong nước cũng như trên thế giới nói chung, đồng thời đưa ra so sánh các luận điểm khác nhau đối với các đề tài. Qua đó tổng kết lại các mô hình nghiên cứu từ trước đến nay về các yếu tố ảnh hưởng đến TTTD để làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương 3 tác giả trình bày cụ thể về phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, mô tả chi tiết các bước thực hiện trong quá trình nghiên cứu, cũng như phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu. Phần này sẽ nêu rõ mô hình hồi quy được sử dụng để nghiên cứu, giải thích các biến và cách tính toán cũng như kỳ vọng dấu của các biến. Chương 4 tác giả sẽ thực hiện và phân tích kết quả của các kiểm định cần thiết thông qua phần mềm Stata 14 như phân tích thống kê mô tả, phân tích ma trận hệ số tương quan giữa các biến, phân tích kết quả ước lượng mô hình Pool OLS, FEM, REM và sau đó tác giả dùng phương pháp ước lượng momen tổng quát - GMM để khắc phục các khuyết tật mô hình. Cuối cùng, tác giả tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và đây cũng chính là cơ sở để đề ra một số khuyến nghị nhằm để thúc đẩy tình hình hoat động TTTD của các NHTM Việt Nam.
Chương 5 tác giả tổng kết lại kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách và đề xuất giải pháp. Đồng thời, từ kết quả của bài nghiên cứu tác giả đưa ra hạn chế mà đề tài chưa thực hiện được và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 14 Giới thiệu chương 2: Chương 2 trình bày tổng quan về cơ sơ lý thuyết, khảo lược các nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài; khắc phục một số hạn chế và làm rõ các khoảng trống học thuật của các bài nghiên cứu trước. Từ đó, tác giả sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu để làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Tổng quan về ngân hàng thương mại Đạo luật Ngân hàng của Pháp (1941) cho rằng ngân hàng là một doanh nghiệp với nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền của người dân với hình thức ký thác hay dưới một vài hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ và các nghiệp vụ chứng khoán, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Theo khoản 02, điều 04, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, thì ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Theo khoản 02, điều 04, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, thì ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
NHTM được nhà nước cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh sản phẩm ngân hàng như: nhận tiền gửi không kì hạn, có kì hạn, cho vay, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán, dịch vụ đầu tư, dịch vụ sản phẩm bảo hiểm,… NHTM đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế xã hội và là cầu nối trung gian giữa các chủ thể kinh tế với nhau. 15 Căn cứ vào tiêu chí hình thức sở hữu và góp vốn thì NHTM được NHNN Việt Nam chia làm 3 loại chính như sau: - Ngân hàng thương mại Nhà nước: là NHTM trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. NHTM Nhà nước bao gồm NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. - Ngân hàng thương mại Cổ phần: là ngân hàng được thành lập theo mô hình một công ty cổ phần, vốn điều lệ ban đầu là do các cổ đông sáng lập đóng góp.
Trong quá trình hoạt động, các NHTM phát hành thêm cổ phiếu để nhằm tăng vốn dựa trên chiến lược hoạt động của các ngân hàng có sự thông qua của các cổ đông hiện hữu. NHTM cổ phần là một trong những loại hình ngân hàng phổ biến ở các nước trên thế giới hiện nay bởi tính ưu việt của mô hình như tổ chức như khả năng mở rộng quy mô vốn hay tính minh bạch và cơ chế giám sát trong ngân hàng. - Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài: là NHTM được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài, trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ). NHTM 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam.
Tổng quan về tăng trưởng tín dụng ngân hàng Tín dụng chính là sự vay mượn dưới hình thức tiền tệ dựa trên uy tín của người đi vay, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả khoản nợ đã vay theo thời hạn thỏa thuận và kèm với lãi suất. Theo khoản 02, điều 04, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, thì hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. 16 Theo Nguyễn Văn Tiến (2013) thì tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp nhận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản bằng tiền, tài sản thực hay uy tín trên cơ sở tin tưởng khách hàng có khả năng hoàn trả cả gốc và lãi khi đáo hạn. Trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD), với các nhà doanh nghiệp và cá nhân (bên đi vay), trong đó các TCTD chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho TCTD khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng ngân hàng là một trong những nghiệp vụ rất quan trọng, thể hiện một mối quan hệ hình thành giữa các ngân hàng với nhau, giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác hoặc với các đối tác kinh tế-tài chính của toàn xã hội bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước. Trong bài nghiên cứu này tác giả tập trung phân tích đo lường chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của các NHTM. Với tín dụng là một trong những hoạt động chính và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các NHTM. Tuy nhiên, khi thực hiện nghiệp vụ cho vay thì ngân hàng thương mại phải đối mặt với một trong số những rủi ro gây tác động đến sự tăng trưởng tín dụng của ngân hàng nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung.
Nghiên cứu của Lane (2014) cho rằng: “Tăng trưởng tín dụng như là một sự gia tăng giá trị dư nợ cho vay trong khu vụ tư nhân bao gồm cả đối tượng là các cá nhân và các tổ chức. Một khi quy mô tín dụng gia tăng, khách hàng có thể vay mượn được nhiều hơn để sử dụng cho các mục đích chi tiêu, đầu tư và kinh doanh”. Lê Văn Chi (2008) cho rằng dư nợ tín dụng hầu hết tại các NHTM đều chiếm tới hơn 50% tổng tài sản của các ngân hàng; đồng thời lợi nhuận từ các hoạt động cho vay thường chiếm khoảng từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Do đó, việc tăng trưởng của hoạt động cho vay (hay còn gọi là tăng trưởng của hoạt động tín dụng) sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động của NHTM.
17 Theo Nguyễn Văn Tiến (2013) thì TTTD là việc các NHTM sử dụng các chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân,… có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu thị trường. Richard Duncan (2011) cho rằng điều quan trọng nhất để hiểu về nền kinh tế trong thời đại trọng tiền ngày nay là tăng trưởng tín dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản (2014) cho rằng tăng trưởng tín dụng là sự gia tăng giá trị của khoản cho vay qua các năm. Ta có thể thấy rằng việc TTTD có ý nghĩa rất lớn đối với các hoạt động của NHTM.
TTTD là việc các NHTM sử dụng các chính sách, nguồn lực của mình nhằm gia tăng nguồn vốn huy động, mở rộng các hoạt động cấp tín dụng của mình đến những chủ thể cần vốn trong nền kinh tế, như là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân,… Tuy nhiên, việc TTTD cần phải tuân theo các tiêu chuẩn quy định, mục đích sử dụng vốn của NHNN nhằm giảm thiểu, hạn chế rủi ro mất vốn. Như vậy, để mang đến hiệu quả hoạt động tín dụng cao thì TTTD cần phải có chất lượng cao. Từ đó, việc mở rộng TTTD của các NHTM sẽ từng bước gia tăng thêm lợi nhuận, nâng cao thương hiệu, đảm bảo sự phát triển bền vững và thị phần trên thị trường của các NHTM.