Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề nghèo đói và nguy cơ tái nghèo là thách thức lớn đối với công tác an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững tại Việt Nam. Theo báo cáo do Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố năm 2018, tỷ lệ tái nghèo bình quân cả nước ước tính khoảng 2%. Tại tỉnh Đồng Tháp, toàn tỉnh ghi nhận 17.266 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 4,04% và 23.164 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 5,48% tổng số hộ dân. Trong bức tranh chung đó, huyện Lai Vung đối mặt với nhiều biến động phức tạp về giảm nghèo. Giai đoạn 2010 - 2014, tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm từ 15,83% xuống 6,50%, nhưng đến năm 2015 đã tăng trở lại mức 8,93%, tương ứng mức tăng 2,43%.

Huyện Lai Vung có diện tích tự nhiên 238,44 km², chiếm 6,79% diện tích toàn tỉnh, với mật độ dân số 678 người/km², cao gấp 1,4 lần mức bình quân của tỉnh Đồng Tháp. Cơ cấu dân cư nông thôn chiếm đến 94,9% (153.341 người) và phần lớn sinh kế phụ thuộc vào canh tác nông nghiệp. Mặc dù nhiều hộ đã thoát nghèo trên danh nghĩa, mức thu nhập của họ vẫn nằm sát chuẩn nghèo và thiếu năng lực chống chịu trước các rủi ro kinh tế - tự nhiên.

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá thực trạng tái nghèo, nhận diện các yếu tố tác động và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến xác suất tái nghèo của các hộ gia đình trên địa bàn 12 xã, thị trấn thuộc huyện Lai Vung. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 4/2017 đến tháng 10/2017, khảo sát các hộ dân tại thị trấn Lai Vung và 11 xã: Hòa Long, Long Thắng, Long Hậu, Tân Phước, Tân Thành, Vĩnh Thới, Tân Hòa, Định Hòa, Phong Hòa, Tân Dương, Hòa Thành. Kết quả nghiên cứu mang lại cơ sở khoa học thực chứng giúp chính quyền địa phương định hướng chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo đa chiều bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết về nghèo đói đa chiều, bẫy nghèo đói và khung sinh kế bền vững để phân tích hiện tượng tái nghèo tại nông thôn:

  • Khung phân tích sinh kế bền vững: Dựa trên mô hình của Chambers và Conway (1991), sinh kế của hộ gia đình được hình thành từ 5 nguồn vốn cơ bản: Vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, sức khỏe), Vốn tự nhiên (quy mô diện tích đất sản xuất), Vốn tài chính (tiền vốn tích lũy, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng), Vốn vật chất (cơ sở hạ tầng, tư liệu sản xuất), và Vốn xã hội (sự hỗ trợ từ Nhà nước, mạng lưới tương trợ cộng đồng). Sinh kế chỉ bền vững khi hộ có khả năng chống chịu và phục hồi sau các cú sốc.
  • Lý thuyết vòng luẩn quẩn của nghèo đói: Hộ nghèo có thu nhập thấp dẫn đến mức tích lũy và đầu tư sản xuất thấp, năng suất lao động kém, từ đó thu nhập tiếp tục suy giảm. Vòng lặp này kết hợp với trình độ học vấn thấp và sinh con đông tạo nên bẫy nghèo đói kéo dài qua nhiều thế hệ.
  • Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều: Khái niệm nghèo đói được chuẩn hóa theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đo lường mức độ thiếu hụt thu nhập kết hợp với 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh, thông tin). Định nghĩa hộ tái nghèo được xác định theo Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, chỉ các hộ đã thoát nghèo nhưng tái rơi vào diện nghèo do khó khăn đột xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với các quy trình cụ thể:

  • Quy mô và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu tối thiểu được xác định theo công thức của Tabachnick và Fidell (1996) với $N = 50 + 8 \times n$. Với 9 biến độc lập dự kiến, quy mô mẫu tối thiểu là 122 quan sát. Tác giả đã mở rộng điều tra ngẫu nhiên và thuận tiện trên 220 hộ gia đình từng thuộc diện nghèo tại 12 xã, thị trấn của huyện Lai Vung (từ 10 đến 26 mẫu mỗi xã, đại diện cho 39.549 hộ toàn huyện). Quá trình thu thập dữ liệu sơ cấp diễn ra từ tháng 4/2017 đến tháng 10/2017 thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi có cấu trúc.
  • Phương pháp phân tích kinh tế lượng: Dữ liệu sau khi làm sạch được xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 20. Do biến phụ thuộc $Y$ là biến nhị phân (nhận giá trị 1 nếu hộ bị tái nghèo và giá trị 0 nếu hộ duy trì thoát nghèo), mô hình hồi quy Binary Logistic được lựa chọn. Phương pháp này cho phép ước lượng xác suất xảy ra biến cố và tính toán tỷ số chênh lệch (Odds Ratio) theo dạng hàm Logit:

$$\ln\left(\frac{P_i}{1 - P_i}\right) = \beta_0 + \beta_1 \text{Vieclam} + \beta_2 \text{Hocvan} + \beta_3 \text{Gioitinh} + \beta_4 \text{Qmo} + \beta_5 \text{Phuthuoc} + \beta_6 \text{Tuoi} + \beta_7 \text{Dientichsx} + \beta_8 \text{Vaytindung} + \beta_9 \text{Hotro}$$

Lý do lựa chọn hồi quy Logistic vì mô hình không đòi hỏi giả định phân phối chuẩn nghiêm ngặt đối với các biến độc lập và giải thích rõ ràng mối quan hệ phi tuyến giữa các nguồn vốn sinh kế với xác suất tái nghèo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thống kê mô tả từ 220 quan sát thực địa tại huyện Lai Vung mang lại những phát hiện then chốt về cấu trúc kinh tế - xã hội của nhóm hộ nghèo và từng thoát nghèo:

  • Tỷ lệ tái nghèo và cơ cấu việc làm: Trong 220 hộ khảo sát, có 131 hộ bị tái nghèo, chiếm tỷ lệ 59,5%; số hộ duy trì trạng thái thoát nghèo là 89 hộ, chiếm 40,5%. Về việc làm, 80,5% chủ hộ (177 người) làm việc thuần túy trong khu vực nông nghiệp, trong khi chỉ có 19,5% (43 người) tham gia khu vực phi nông nghiệp.
  • Đặc điểm nhân khẩu học và học vấn: Tỷ lệ chủ hộ là nam giới chiếm 83,2% (183 người) và nữ giới chiếm 16,8% (37 người). Trình độ học vấn của các chủ hộ tập trung ở mức thấp: 46,4% đạt trình độ trung học cơ sở, 45,5% đạt trình độ trung học phổ thông, 3,2% có trình độ tiểu học trở xuống, và chỉ có 5,0% đạt trình độ từ trung cấp trở lên. Như vậy, có đến 91,9% chủ hộ chỉ có trình độ học vấn từ THPT trở xuống.
  • Các chỉ tiêu kinh tế hộ gia đình: Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 40,20 tuổi (nhỏ nhất là 20 tuổi, lớn nhất là 71 tuổi). Quy mô nhân khẩu trung bình là 2,20 người/hộ (dao động từ 1 đến 6 người). Số người phụ thuộc bình quân là 1,10 người/hộ (tối đa 4 người). Diện tích đất sản xuất nông nghiệp trung bình đạt 2.736,82 m²/hộ (từ không có đất đến cao nhất 10.000 m²). Dư nợ vay tín dụng bình quân là 31,35 triệu đồng/hộ (mức vay từ 20 đến 50 triệu đồng). Mức hỗ trợ tài chính từ Nhà nước trung bình đạt 580.454,55 đồng/hộ/năm.
  • Khó khăn trong tổ chức sản xuất: Rào cản lớn nhất trong trồng trọt là rủi ro thiên tai, dịch bệnh (chiếm 13,7% ý kiến phản hồi) và giá cả đầu ra không ổn định (chiếm 13,0%), tiếp theo là thiếu vốn (11,4%) và thiếu đất sản xuất (11,3%). Trong chăn nuôi, thiên tai, dịch bệnh chiếm 12,1%, biến động giá cả đầu ra chiếm 11,6%, và thiếu đất chăn nuôi chiếm 10,2%.

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích định lượng xác nhận tính nhạy cảm cao của sinh kế nông hộ trước các yếu tố thị trường và điều kiện tự nhiên. Dữ liệu thực tế cho thấy cấu trúc việc làm thuần nông (80,5%) gắn liền với tỷ lệ tái nghèo cao do tính thời vụ và sự bấp bênh của thu nhập từ cây trồng truyền thống như lúa, quýt hồng, quýt đường. Có thể hình dung dữ liệu này qua biểu đồ phân bố cơ cấu nghề nghiệp và bảng tổng hợp khó khăn sản xuất, nơi hai cột mốc thiên tai (13,7%) và rủi ro giá (13,0%) chiếm tỷ trọng áp đảo.

So sánh với nghiên cứu của tác giả tại huyện Châu Thành (Đồng Tháp) và huyện An Phú (An Giang), quy mô diện tích đất sản xuất bình quân (2.736,82 m²) là biến số có tác động nghịch chiều mạnh mẽ đến nguy cơ tái nghèo. Các hộ sở hữu ít đất hoặc không có đất canh tác bắt buộc phải bán sức lao động làm thuê theo ngày, khiến dòng tiền thiếu ổn định.

Bên cạnh đó, gánh nặng số người phụ thuộc (trung bình 1,10 người/hộ trên tổng quy mô 2,20 người) làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tích lũy tài chính. Mặc dù 100% hộ đều tiếp cận được nguồn vốn tín dụng với mức dư nợ trung bình 31,35 triệu đồng, việc thiếu kỹ năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật (9,9% hộ phản ánh thiếu kỹ thuật) khiến nguồn vốn vay chưa phát huy tối đa hiệu quả, thậm chí tạo áp lực trả nợ khi mùa vụ thất thu. Mức hỗ trợ bình quân 580.454,55 đồng/năm từ các chính sách an sinh mang tính chất trợ cấp ngắn hạn, chưa đủ tạo bước ngoặt để hộ thoát nghèo vững chắc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát tỷ lệ tái nghèo và nâng cao hiệu quả công tác an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lai Vung giai đoạn 2019 - 2025, bốn nhóm giải pháp can thiệp chính sách được đề xuất:

  • Tái cơ cấu lao động và đào tạo nghề phi nông nghiệp: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Lai Vung chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp lân cận mở các lớp đào tạo nghề ngắn hạn (cơ khí, may mặc, chế biến nông sản). Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động có việc làm phi nông nghiệp trong nhóm hộ cận nghèo từ 19,5% lên mức 35% trong giai đoạn 2019 - 2022, giảm áp lực phụ thuộc thuần nông.
  • Hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi gắn với bảo hiểm nông nghiệp: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Lai Vung rà soát và nâng hạn mức cho vay phát triển sản xuất từ mức bình quân 31,35 triệu đồng lên 50 - 70 triệu đồng/hộ đối với các mô hình trồng cây ăn trái đặc sản. Đồng thời, liên kết với các công ty bảo hiểm triển khai gói bảo hiểm nông nghiệp trợ giá nhằm bảo vệ hộ vay vốn trước 13,7% rủi ro thiên tai, dịch bệnh.
  • Hỗ trợ liên kết tiêu thụ nông sản và tích tụ đất đai: Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng các hợp tác xã kiểu mới, ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm quýt đường, quýt hồng và hoa màu, giải quyết dứt điểm 13,0% rào cản về giá cả bấp bênh. Khuyến khích cơ chế cho thuê đất nông nghiệp dài hạn để nâng diện tích canh tác hiệu quả lên trên 4.000 m²/hộ.
  • Chuyển dịch cơ chế an sinh xã hội từ trợ cấp sang hỗ trợ có điều kiện: Ủy ban nhân dân các xã và thị trấn thay đổi hình thức hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt (bình quân 580.454 đồng/hộ/năm) sang các gói hỗ trợ công cụ sản xuất, cây con giống chất lượng cao, miễn giảm học phí và cấp thẻ bảo hiểm y tế gắn với cam kết học nghề, triệt tiêu tâm lý ỷ lại vào chính sách của Nhà nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý Nhà nước: Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp, UBND cấp huyện và xã tại tỉnh Đồng Tháp có thể sử dụng số liệu của 220 hộ điều tra để xây dựng kế hoạch giảm nghèo đa chiều, phân bổ ngân sách an sinh xã hội sát với thực tế địa phương.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Người thực hiện các đề tài nghiên cứu về Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn có thể tham khảo phương pháp áp dụng mô hình Binary Logistic kết hợp khung lý thuyết sinh kế bền vững trong phân tích nghèo đói cấp vi mô.
  • Cán bộ tín dụng và tổ chức tài chính vi mô: Các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách Xã hội có thêm cơ sở thực tiễn để đánh giá rủi ro tín dụng nông hộ, thiết kế sản phẩm vay vốn đi kèm tư vấn kỹ thuật sản xuất.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ sinh kế và thích ứng biến đổi khí hậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nguồn tư liệu tham khảo giá trị về mức độ thiếu hụt các nguồn vốn sinh kế tại địa bàn nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao mô hình hồi quy Binary Logistic lại phù hợp nhất với nghiên cứu này? Mô hình Binary Logistic được thiết kế tối ưu cho biến phụ thuộc có dạng nhị phân, chỉ nhận hai giá trị là tái nghèo (1) hoặc không tái nghèo (0). Mô hình cho phép dự báo chính xác xác suất xảy ra biến cố dựa trên 9 biến độc lập về nhân khẩu, kinh tế và thể chế mà không vi phạm các giả định phân phối chuẩn thông thường.

  • Yếu tố nào tác động mạnh nhất đến tình trạng tái nghèo tại huyện Lai Vung? Cơ cấu việc làm thuần nông (chiếm 80,5% mẫu khảo sát) và quy mô diện tích đất sản xuất thấp (bình quân chỉ 2.736,82 m²) là hai nguyên nhân then chốt. Hộ làm nông nghiệp chịu tác động trực tiếp từ 13,7% rủi ro dịch bệnh và 13,0% biến động giá cả thị trường, dẫn đến thu nhập bấp bênh và dễ tái nghèo.

  • Nguồn vốn vay tín dụng đóng vai trò như thế nào trong kiểm soát tái nghèo? Dù 100% hộ khảo sát tiếp cận được vốn vay với mức bình quân 31,35 triệu đồng, vốn tín dụng chỉ phát huy hiệu quả khi đi đôi với kỹ năng sản xuất và ổn định đầu ra. Nếu thiếu định hướng kỹ thuật, vốn vay có thể làm tăng gánh nặng trả nợ khi gặp rủi ro mùa vụ.

  • Điểm khác biệt giữa chuẩn nghèo đơn chiều và chuẩn nghèo đa chiều là gì? Chuẩn nghèo đơn chiều chỉ căn cứ vào tiêu chí thu nhập hoặc chi tiêu tối thiểu. Ngược lại, chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg kết hợp cả tiêu chí thu nhập (dưới 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn) và mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản.

  • Tại sao mức hỗ trợ tài chính từ Nhà nước chưa giúp hộ dân thoát nghèo bền vững? Mức hỗ trợ bình quân hiện tại chỉ đạt 580.454,55 đồng/hộ/năm, chủ yếu mang tính cứu trợ đột xuất ngắn hạn. Khi chưa gắn liền với đào tạo nghề dài hạn và tạo sinh kế tự chủ, chính sách trợ cấp trực tiếp chưa đủ lực để giúp hộ vượt qua các cú sốc kinh tế.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng tái nghèo tại huyện Lai Vung với tỷ lệ 59,5% hộ khảo sát bị tái nghèo, làm rõ tính thiếu bền vững của công tác giảm nghèo giai đoạn 2010 - 2015.
  • Nhận diện và lượng hóa tác động của các nhân tố cốt lõi: việc làm nông nghiệp (80,5%), trình độ học vấn thấp (91,9% dưới THPT), đất canh tác hạn chế (2.736,82 m²) và số người phụ thuộc cao (1,10 người/hộ).
  • Vận dụng thành công khung phân tích sinh kế bền vững kết hợp mô hình kinh tế lượng Binary Logistic để xử lý bộ dữ liệu thực địa 220 quan sát đại diện cho 12 xã, thị trấn.
  • Đề xuất 4 giải pháp đồng bộ về đào tạo nghề phi nông nghiệp, hoàn thiện tín dụng ưu đãi gắn bảo hiểm rủi ro, liên kết chuỗi nông sản và đổi mới cơ chế an sinh có điều kiện.
  • Thiết lập lộ trình thực hiện từ năm 2019 đến năm 2025 nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương hạ tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo bền vững. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu nên tiếp tục ứng dụng mô hình để theo dõi biến động sinh kế hộ gia đình trong giai đoạn phát triển mới.