Chương 1: Giới thiệu dé tài gồm có lý do hình thành dé tai, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của luận văn và cấu trúc báo cáo luận văn. Chương 2: Trình bảy cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây từ đó hình thành nên mô hình nghiên cứu. Chương 3: Trình bày phương pháp và quy trình nghiên cứu. Chương 4: Trình bày về quy trình phân tích và kết quả nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo, mô hình và các giả thuyết đề ra.
Chương 5: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu. các đóng góp cũng như các hạn chê của nghiên cứu và một sô định hướng cho nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYET 2. GIỚI THIỆU VE DỊCH VU QUAN CÀ PHÊ: Người Hà Nội thích uống cà phê ở những con phô nhỏ, những quán nhỏ, day tram mặc và suy tư.
Họ thường ngồi thư thái bên ly cà phê, đọc một tờ bao, tram ngâm trước những dòng xe hối hả qua lại và nhìn những mái ngói cô rêu phong nhuốm màu thời gian, hồi tưởng và hoài niệm. Ho có thé là những người trung niên, những viên chức về hưu. hay bộ phận những người làm kinh doanh cần khoảng thời gian riêng cho mình. Những điều này thể hiện tính cách, văn hóa của người Hà Nội, nét văn hóa rat riêng 0 vùng đất kinh kì ngàn năm tudi.
Người Huế thì lại khác, họ thích uống cả phê tại những quán cà phê vườn xanh mát, có cái nang nhé nhẹ và tiếng chim lảnh lót. Sở thích ca phê của người Huế cũng rất riêng, họ uống cà phê rất đặc và thường thích không khí trong lành, nhẹ nhàng của những bồi cảnh xanh trữ tinh, dam thắm. Còn tại thành phố H6 Chí Minh thì khác han với những vùng khác trên cả nước. Khách hàng tại thành phố Hỗ Chí Minh có sở thích thưởng thức cà phê rất riêng, mang đậm đặc tính phóng khoáng của con người mở đất phương Nam.
Con người nơi đây uống cả phê mọi lúc, mọi nơi, họ có thể thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuôi. Ly cà phê tại thành phố H6 Chí Minh thuong rất đặc biệt, nó có thé to hoặc nhỏ nhưng vẫn day những đá. Khách hang uống và thích hương vị ngậy ngậy của đậu nành rang cháy trộn lẫn với bột cà phê, và coi cà phê như một thứ nước giải khát thông dụng. Tại thành phố Hồ Chi Minh có rất nhiều loại hình cà phê.
phục vụ đủ mọi nhu cầu của các tầng lớp xã hội khác nhau. Sài Gòn có cà phê bệt, ngồi vỉa hè, cà phê trong những con ngõ nhỏ, rồi các quán cả phê sang trọng với giá thành những ly cà phê Trung Nguyên, Highland dat hon va chất lượng, rỗi cà phê sách, cà phê sành điệu. Cà phê tại thành phố Hồ Chí Minh muôn màu muôn vẻ, thể hiện lối sống, tính cách và con người của vùng dat phương Nam day tự do và ngâu hứng, có những quán cà phê còn chú ý chăm chút cả đội ngũ nhân viên, sao cho ngoại hình bắt mắt, ăn nói nhỏ nhẹ.nhưng dù có là một quán cà phê lớn, hay một cửa hàng cà phê trong hẻm, họ van luôn niềm nở, tận tinh với từng khách hàng. Đó thực sự là một lối sống, một cách làm việc hết sức chuyên nghiệp, góp phan tạo nên bức tranh da sắc của thành phố phát triển bậc nhất Việt Nam.
DỊCH VU (SERVICE): Dịch vụ là một khái niệm pho bién trong marketing va kinh doanh. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vu là những hành vi, quá trình, cach thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cau và mong đợi của khách hàng. Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thé cống hiến cho khách hàng nhăm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. CHẤT LƯỢNG DICH VU (QUALITY SERVICE): Chat lượng dịch vụ là một phạm trù rất rộng và phức tap, phản anh tong hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội.
Do tính phức tạp đó nên hiện này có rất nhiều khái niệm khác, có thể nhận thấy, tùy theo hướng tiếp cận mà khái niệm chất lượng dịch vụ được hiểu theo các cách khác nhau, mỗi cách hiểu đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế. Một vài chuyên gia về chất lượng đã định nghĩa chất lượng dịch vụ như sau: Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984) cũng dé nghị hai thành phan của chất lượng dịch vụ: (1) chất lượng kỹ thuật - là những gi mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng - điên giải dịch vụ được cung cap như thê nao. Parasuraman ef al.
(1988, trang 17) định nghĩa chat lượng dịch vu là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dich vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Nghiên cứu này sử dụng khái niệm chất lượng dịch vụ của Parasuraman, chất lượng dịch vụ quán cà phê được định nghĩa là sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận về dịch vụ cà phê được cung câp bởi những quán cà phê. ĐO LƯỜNG CHAT LƯỢNG DỊCH VU: Qin và Prybutok (2009) đã đo lường chất lượng dich vụ nha hang thức ăn nhanh dựa trên thang đo SERVPERF (Cronin và Taylor, 1992) gồm năm thành phan: sự tin cậy (reliability) gồm 5 biến: cung cấp dịch vụ như đã hứa, biết thông cảm và tạo sự vên tâm, đáng tin cay, dịch vụ theo đúng lịch trình, tính phí chính xác; sự đáp ứng (responsiveness) gồm 4 biến: nói chính xác vé thời gian cung cấp dịch vu, nhân viên san sàng dé khách yêu cau, dịch vụ nhanh chóng, nhân viên sẵn sàng giúp đỡ; năng lực phục vụ (assurance) gồm 4 biến: nhân viên đáng tin, cảm thấy an toàn cho các giao dịch tài chính, nhân viên thân thiện, nhân viên có kiến thức; sự cảm thông (empathy) gồm 4 biến: đồ dùng nhà bếp có sẵn, giờ hoạt động thuận tiện, địa điểm thuận tiện, thực phẩm đóng gói hoàn toàn ; phương tiện hữu hình (tangibles) gồm 5 biến: khu vực ăn uống sạch sẽ, nhân viên ăn mặc đẹp dé, sử dụng găng tay dùng một lần và lưới bao tóc, chỗ ngồi có san, bãi đỗ xe có sẵn và có sự bố sung thêm thành phần mới là sự phục hồi (recovery) gồm 4 biến: nhân viên nhanh chóng xin lỗi vì những sai lầm, quan tâm về khiếu nại của khách hang, kỹ năng và khả năng dé xử lý sự than phiền, hành động đền bù thỏa đáng của nhân viên — lang nghe sự than phiền của khách hang, sẵn sang xin lỗi khách hàng khi nhân viên phục vụ mắc lỗi và có hành động bên bù thỏa đáng. Andaleeb và Conway (2006) đã đo lường chất lượng dịch vụ nhà hàng dựa trên thang đo SERVQUAL (Parasuraman ef z/., 1988) gồm năm thành phân(sự tin cậy, sự đáp ứng, năng lực phục vu, sự cam thông, phương tiện hữu hình); tuy nhiên SERVQUAL được sử dụng dé đánh giá bốn tô chức “thuần túy” như ngân hang, công ty thẻ tín dụng, công ty sữa chữa và bao trì, hãng vận tải điện thoại đường dai (không phân biệt nên tảng kinh nghiệm.
tìm kiếm, và điều kiện tiền dé); trong khi đó nhà hang là tổ chức hỗn hợp sản phẩm- dich vu, nơi mà sản xuất và tiêu dùng sản phẩm không thể tách rời, hơn nữa khách hàng mong chờ và muốn sự đa dạng về sự lựa chọn thức ăn và vi trí thường xuyên hơn, họ hình thành một “danh sách xem xét” điển hình - là một cụm nhà hàng mà họ sẽ sử dụng luân phiên (Neal, 1999, theo Andaleeb và Conway, 2006). Trong hoàn cảnh mà sản phẩm - dịch vụ hỗn hợp, và ở nơi mà sự đánh giá dựa vào phân lớn kinh nghiệm thì Andaleeb và Conway (2006) cho rằng tất cả năm thành phan gốc của SERVQUAL không can phải dùng hết nên đã bỏ đi 2 thành phan trong thang đo SERVQUAL là năng lực phục vụ, sự cảm thông. Do đó, Andaleeb và Conway (2006) đã đo lường chất lượng dịch vụ nhà hàng gồm 3 thành phan: sự đáp ứng gồm 7 biến: nhân viên chu đáo, nhân viên hữu ích, dich vụ nhanh chóng, ngoại hình nhân viên phục vụ gọn gàng, nhân viên hiểu nhu cầu của bạn, nhân viên phục vụ lịch sự, nhân viên phục vụ có kiến thức về thực đơn; chất lượng thức ăn / sự tin cậy gồm 4 biến: bạn đã nhận được chính xác những gi bạn đặt cho lần đầu tiên, đơn đặt hàng của bạn được phục vụ miễn phí khi có lỗi, các món ăn tươi, nhiệt độ của thức ăn vừa phải; thiết kế vật lý và diện mạo gồm 4 biến: ánh sáng trong nhà hàng là thích hợp, bãi đậu xe day đủ đã có san, nha hàng sạch sé, trang tri nội thất trực quan hấp dẫn. Trong bài nghiên cứu của mình, Yuan, Chang, Tzeng (2012) áp dụng FAHP đo lường chất lượng dich vụ quán cà phê theo thang đo SERVQUAL.
Kết quả bài nghiên cứu xác định năm thành phần đo lường chất lượng dịch vụ của dịch vụ quán ca phê: phương tiện hữu hình gồm 3 biến: môi trường sạch sẽ - thoải mái - có đội ngủ dọn dẹp thường xuyên, các phương tiện - thiết bị của quán sạch sẽ, có đủ chỗ ngồi và không gian cho khách hàng: sự tin cậy gồm 3 biến: có nguồn cung ứng đủ thực phẩm tươi có lợi cho sức khỏe, thiết bị nhà bếp - đồ nầu nướng phải định hướng vì sức khỏe con người, quán phải có nhiều hơn một chứng chỉ kiểm tra chất lượng: sự đáp ứng gồm 3 biến: dịch vụ cung cấp nhanh chóng và chính xác, đáp ứng ngay nhu cau của khách hàng, khách hàng cần sự điều chỉnh phù hợp từ quán; năng lực phục vụ gồm 3 biến: nhân viên quán phải truyền được sự tin tưởng đến khách hàng, nhân viên quán phải lịch sự và nhã nhặn với khách hang, nhân viên quán phải có kiến thức dé trả lời các câu hỏi của khách hàng: sự cảm thông gồm 3 biến: quán phải chăm sóc đến từng khách hàng, quán phải có đội ngũ chăm sóc khách hàng, quán phải hiểu nhu cầu của khách hàng. Mặt khác, Chua và Komaran (2002) đo lường chất lượng dịch vụ quán cà phê theo phương pháp đo đạc kết hợp các khả năng cung cấp dịch vụ và nhu cầu của khách hàng.