Chương 1 đã trình bày tổng quan và lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa đề tài. Chương 2 trình bày tổng quan tài liệu về các nghiên cứu trước, khái niệm, lý thuyết, dựa vào đó tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết. Chương 3 sẽ trình bày phương pháp thực hiện đề tài như xây dựng thang đo, nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức, phương pháp phân tích, cách xử lý dữ liệu như: thống kê mô tả, kiểm định thang đo, phân tích mô hình hồi quy bằng phần mềm SPSS. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu theo trình tự các bước xử lý dữ liệu ở chương 3 và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5 là chương cuối cùng trình bày tóm tắt kết luận và đề xuất hàm ý quản trị cho vấn đề đang nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Thời gian chờ đợi của khách hàng (Customer Wait Time - CWT) Thời gian chờ đợi về cơ bản đề cập đến thời gian trung bình mà khách hàng chờ đợi để hoàn thành các dịch vụ mà họ yêu cầu từ nhà cung cấp dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định (Kotler và Keller, 2016; Lin và cộng sự, 2015; Taylor, 1994). Theo tâm lý học và tài liệu tiếp thị, khái niệm thời gian chờ đợi của khách hàng có nhiều khía cạnh khác nhau như thời gian chờ đợi có thể là khách quan hoặc chủ quan (Pruyn và Smidts, 1993; Smidts và Pruyn, 1994; Taylor, 1994).
Thời gian chờ đợi khách quan đề cập đến thời gian chờ đợi thực tế mà khách hàng đã chờ đợi được phục vụ. Thời gian này có thể được ước tính bằng cách đọc đồng hồ để tìm ra thời gian mà khách hàng đã thực sự chờ đợi để được nhà cung cấp dịch vụ phục vụ. Thời gian chờ đợi chủ quan còn được gọi là thời gian chờ đợi cảm nhận vì nó là khoảng thời gian mà khách hàng cảm thấy họ đã chờ đợi dịch vụ (Bae và Kim, 2014). Nghiên cứu này tập trung vào thời gian chờ đợi được cảm nhận vì nó được coi là cực kỳ quan trọng đối với khách hàng và nó có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng nhiều hơn thời gian chờ đợi thực tế ở cả môi trường bên ngoài và môi trường trực tuyến (Lee và cộng sự, 2012).
Ví dụ, lý thuyết xếp hàng của Maister (1985) sửa đổi quy trình cung cấp dịch vụ là những phương pháp có thể được sử dụng để giảm thời gian chờ đợi. Sự hài lòng của khách hàng (Customer Satisfaction - CS) Sự hài lòng của khách hàng là cảm giác hài lòng của khách hàng do nhận thức của họ về sự phù hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ với mong đợi của họ. Sự hài lòng là một cảm xúc tích cực, mà mỗi người được tạo ra sau khi sử dụng sản 8 phẩm hoặc dịch vụ. Nếu hàng hóa và dịch vụ mà khách hàng nhận được, đáp ứng được kỳ vọng của họ sẽ tạo ra cảm giác hài lòng ở họ và ngược lại nếu mức độ dịch vụ và sản phẩm không đáp ứng được mong đợi của khách hàng, sẽ dẫn đến sự không hài lòng (Kotler, 2003; Dahiyat và ctg, 2011).
Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa là sự so sánh của khách hàng giữa giá trị cảm nhận của dịch vụ được cung cấp và mong đợi của khách hàng (Oliver, 2010). Từ định nghĩa trên, có thể nói rằng khái niệm về sự hài lòng của khách hàng đồng nhất với khái niệm marketing dựa trên nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Mối quan tâm đối với khách hàng và trải nghiệm của họ với công ty nên xuyên suốt và phải trở thành một phần không thể thiếu trong triết lý của công ty và để mở ra khái niệm về sự hài lòng của khách hàng. Khách hàng trở nên hài lòng nếu hiệu suất của hàng hóa hoặc dịch vụ tương đương, hoặc thậm chí vượt qua kỳ vọng ban đầu.
Nếu không, họ sẽ không hài lòng. Trên thực tế, những khách hàng không hài lòng có xu hướng tạo ra những lời truyền miệng có hại hoặc bất lợi và bày tỏ ý kiến không tán thành của họ với người khác (Amin và Isa, 2008). Trong nhiều trường hợp, sự hài lòng của khách hàng được coi là tiền đề cho lòng trung thành của khách hàng và lợi nhuận của công ty (Fornell và ctg, 2006). Đây là cơ sở của kết luận rằng sự hài lòng của khách hàng dẫn đến việc giữ chân khách hàng là hệ quả chính của lòng trung thành (Wicks và Roethlein, 2009).
Sự hài lòng của khách hàng cho phép doanh nghiệp đo lường từ hành vi của khách hàng sau khi họ tiếp xúc với tổ chức, chẳng hạn như giảm phàn nàn của khách hàng, mua lại, truyền miệng tích cực và lượng mua hàng tăng lên (Yoo và Park, 2007). Việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của từng khách hàng (khả năng đáp ứng của khách hàng) có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng (Piccoli và O’Connor, 2003). 9 Sự hài lòng của khách hàng ngày càng được các nhà nghiên cứu và các nhà thực hành quan tâm như một lĩnh vực nghiên cứu học thuật được công nhận và là công cụ cơ bản được các tổ chức tài chính sử dụng để nâng cao lòng trung thành của khách hàng và cuối cùng là hiệu suất và lợi nhuận của tổ chức. Tầm quan trọng của sự hài lòng của khách hàng không thể bị gạt bỏ bởi vì khách hàng hạnh phúc giống như quảng cáo miễn phí.
Nhiều người trong chúng ta đã nghe nói về xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp là lấy khách hàng làm trung tâm, đó là đặt khách hàng làm trung tâm về các chiến lược, hành động và quy trình của doanh nghiệp. Đối với hầu hết chúng ta, chân lý cũ vẫn được giữ vững, chẳng hạn như việc bán hàng cho khách hàng hiện tại dễ dàng và có lợi hơn là tìm khách hàng mới. Trên thực tế, các tổ chức ngày càng đặt ra cho mình các chiến lược để đo lường và đảm bảo giữ chân khách hàng, đồng thời hướng nhân viên của họ tập trung hơn vào khách hàng để làm hài lòng họ (Mohsan và cộng sự, 2011), vì khách hàng luôn là thượng đế. Lý thuyết Tâm lý học Xếp hàng (Queuing Psychology Theory) Kỹ sư người Đan Mạch AK Erlang là người tiên phong trong lĩnh vực lý thuyết xếp hàng vào đầu thế kỷ 20 khi phân tích về thời gian chờ đợi điện thoại.
Các nhà nghiên cứu ban đầu tập trung vào việc cải thiện hiệu quả của hàng đợi, phục vụ càng nhiều người càng tốt trong phạm vi ngân sách cố định của công ty. Nhưng họ ít chú ý đến cảm giác của mọi người khi đứng xếp hàng. Vào đầu những năm 1950 tại thành phố New York, vấn đề xếp hàng chờ đợi đã thành hiện thực trong thang máy của những tòa nhà chọc trời mới xây của thành phố. Các nhà quản lý tòa nhà đã nhận ra rằng vấn đề không nằm ở chính thời gian chờ đợi mà đúng hơn đó là cảm nhận thời gian chờ đợi.
Năm 1985, giáo sư David Maister của Trường Kinh doanh Harvard đã biên soạn tổng quan tiêu chuẩn vàng về tâm lý xếp hàng. Trong bài báo “Tâm lý của 10 việc chờ đợi theo hàng”, Maister đã phát triển lý thuyết tâm lý xếp hàng tập trung vào sự kết hợp giữa nhận thức và quản lý kỳ vọng. Đặc biệt, ông đã định nghĩa một khái niệm mà ông gọi là Luật đầu tiên về dịch vụ, đó là Sự hài lòng = sự cảm nhận - sự mong đợi. Ông khẳng định thêm rằng nếu bạn mong đợi một mức độ dịch vụ nhất định và cảm nhận dịch vụ nhận được cao hơn, bạn sẽ là một khách hàng hài lòng.
Có hai hướng chính trong đó sự hài lòng của khách hàng đối với sự chờ đợi có thể bị ảnh hưởng, đó là bằng cách làm việc trên những gì khách hàng mong đợi và những gì khách hàng cảm nhận. Theo Maister (1985), có tám nguyên tắc mà các tổ chức có thể sử dụng để tác động đến sự hài lòng của khách hàng trong thời gian chờ đợi. Cụ thể: (1) Thời gian rỗi cảm thấy lâu hơn thời gian bận rộn: Cho khách hàng việc gì đó để làm hoặc phân tán sự chú ý của họ như trình chiếu tivi để họ xem, nhạc để nghe. Hàng đợi trực tuyến thực sự có lợi thế hơn hàng đợi thực vì khách hàng không bị giới hạn bởi nhu cầu xếp hàng.
Nếu phòng chờ ảo của có thể thông báo cho khách khi đến lượt xếp hàng, họ có thể làm những việc khác như kiểm tra email, dọn dẹp nhà cửa hoặc làm bất kỳ việc gì để chiếm thời gian của họ trong khi chờ đợi. (2) Sự không chắc chắn làm cho việc chờ đợi dường như lâu hơn: Nói với khách hàng (đại khái) về thời gian họ phải đợi là bao lâu và mọi người sẽ có thể chấp nhận sự chậm trễ hơn. Một nghiên cứu về tàu điện ngầm và xe buýt ở London đã nhận ra điều này (Antonides, Verhoef, và Van Aalst, 2002). Các xác nhận về thời gian không cần phải chính xác; độ chính xác không thành vấn đề.
Cung cấp cho khách hàng một số thông tin để loại bỏ sự mơ hồ và mang lại cho một người sự tin tưởng rằng hệ thống vẫn đang vận hành. (3) Lo lắng khiến thời gian chờ đợi dường như lâu hơn: Khách hàng sẽ lo lắng không biết bao giờ mới đến lượt mình, điều này làm cho họ có cảm giác bồn 11 chồn. Do đó, hãy loại bỏ bất cứ thứ gì có thể gây lo lắng ví dụ như cảnh báo khách rằng họ chỉ có vài phút để hoàn tất việc đặt phòng. Giải quyết trước mọi lo lắng giúp khách hàng có thể gia tăng sự hài lòng của họ.
(4) Thời gian chờ đợi không có lý do lâu hơn thời gian chờ có lý do: Con người luôn tìm kiếm lời giải thích đằng sau tất cả mọi thứ, sự im lặng không được giải thích gây ra sự khó chịu. Một số tổ chức đã nhận ra tầm quan trọng của việc đưa ra lời giải thích, vì vậy việc đảm bảo cung cấp lời giải thích rõ ràng về lý do tại sao khách hàng phải xếp hàng. Nếu có thể, hãy duy trì thông tin liên lạc theo thời gian thực tới những khách hàng đang chờ đợi để cập nhật thông tin và nhắc họ lý do tại sao phải đợi. (5) Thời gian chờ đợi không công bằng lâu hơn thời gian chờ công bằng: Nhận thức về sự công bằng được cho là tác động lớn nhất đến cảm giác của khách hàng khi xếp hàng chờ đợi.