Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Hệ thống NHTM Việt Nam và vấn đề rủi ro tín dụng Chương 3: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 4 Chương 5: Kết luận và gợi ý giải pháp 5 CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ RỦI RO TÍN DỤNG 2. Giới thiệu về ngân hàng thương mại Việt Nam 2. Số lượng các ngân hàng Hệ thống NHTM đã có sự tăng trưởng đáng kể về số lượng từ khi hệ thống ngân hàng một cấp của Việt Nam được chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp. Cụ thể, nếu tại năm 1990, hệ thống NHTM Việt Nam chỉ gồm 4 ngân hàng thì đến năm 1993 số lượng ngân hàng là 41 – tăng hơn 10 lần chỉ sau 3 năm và đạt đỉnh điểm vào năm 1997 với 51 NHTM.
Tuy nhiên, từ sau năm 1997 số lượng NHTM đã giảm dần do sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 thì một số ngân hàng kinh doanh không hiệu quả nên bị rút giấy phép hoạt động, và đến năm 2006 số NHTM giảm xuống còn 37 ngân hàng.1 cho thấy, số lượng các NHTM Việt Nam tăng trở lại vào năm 2007 - 2008, sau đó giảm dần. Tính đến 31/12/2018 hệ thống NHTM Việt Nam gồm 34 NHTM (không tính NHTM 100% vốn nước ngoài hoặc ngân hàng liên doanh), trong đó có 31 ngân hàng thương mại cổ phần (trong đó 03 NHNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ) và 04 ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà Nước sở hữu (trong đó 03 NHTM cổ phần mua bắt buộc). Như vậy, tính đến năm 2018 thì số lượng NHTM đã giảm hẳn (so với cuối năm 2008 là 45 NHTM bao gồm cả NHTM tư nhân và NHTM Nhà Nước). Số lượng NHTM giảm hẳn là do kết quả của giai đoạn đầu thực hiện đề án 254/QÐ-TTG ngày 01/03/2012 “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015" của Chính Phủ nên các NHTM yếu kém đã được thực hiện tái cơ cấu (sáp nhập, hợp nhất, mua lại).1: Số lượng các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2007–2018 Loại ngân hàng 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 NHTMNN 5 5 5 5 5 5 5 4 7 4 4 4 NHTMCP 34 40 39 38 35 32 33 31 28 31 31 31 NHLD&NN 46 49 50 58 59 60 60 55 58 61 56 63 Tổng cộng 85 94 94 101 99 97 98 90 93 96 91 98 (Nguồn: Báo cáo các tổ chức tín dụng của NHNN) 2.
Quy mô tài sản Xét về mặt tổng thể, giai đoạn 2007 – 2018 các NHTM Việt Nam có xu hướng tăng quy mô tổng tài sản (Biểu 2. Các năm 2007–2012 ghi nhận các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của 3 NHTM Nhà Nước lớn nhất là NHTM cổ phần Ngoại Thương, NHTM cổ phần Công Thương và NHTM cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam; bên cạnh đó, nhiều ngân hàng cũng phát hành thêm cổ phiếu hoặc gia tăng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của các NHTM nhanh chóng, trung bình hơn 27%/năm. Từ sau 2012, cùng với sự khó khăn của thị trường ngân hàng và cả của nền kinh tế, các ngân hàng thu hẹp quy mô hoạt động để đảm bảo an toàn, tăng trưởng tín dụng ở mức thấp dẫn đến tốc độ tăng tổng tài sản bị chậm lại. Trong các năm 2017 - 2018 nền kinh tế có nhiều khởi sắc, hoạt động kinh doanh của các NHTM được cải thiện, tốc độ tăng tổng tài sản duy trì ở mức 19%/năm và chạm mức 7,2 triệu tỷ đồng vào cuối năm 2018 (Nguồn: NHNN 2018).
Tổng tài sản của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007–2018. Đơn vị tính: triệu tỷ VND. Hoạt động huy động vốn Tiền gửi khách hàng là nguồn vốn quan trọng và chủ chốt giúp duy trì và phát triển hoạt động của ngân hàng. Trong giai đoạn nghiên cứu (2007 – 2018), vốn huy động tại các NHTM Việt Nam tăng liên tục qua các năm (Biểu 2.
Qua biểu đồ có thể thấy các năm 2007 – 2011 đánh dấu sự thăng trầm của hoạt động huy động vốn. Cụ thể, năm 2007 tăng trưởng vốn huy động ở mức 32.5% thì sang năm 2008 giảm chỉ còn 19.4%, sau đó tăng rất cao ở mức 34.7% vào năm 2010, rồi đột ngột giảm chỉ còn 14.1% vào năm 2011 – giảm hơn một nửa so với năm 2010. Giải thích có sự tăng trưởng vốn huy động cao vào năm 2007 là do 2007 là năm mà thị trường bất động sản và chứng khoán nóng sốt đã thu hút được nguồn vốn trong dân cư. Tình hình này đã buộc các ngân hàng phải nâng lãi suất huy động để cạnh tranh.
Lãi suất huy động cao đã giúp các ngân hàng thu hút được vốn từ dân cư. Mặt khác, năm 2007 là năm mà tăng trưởng tín dụng cũng ở mức khá cao là 27.3) cho thấy sự tăng qui mô của hoạt động tín dụng và các ngân hàng cần vốn để cho vay nên đã đẩy mạnh huy động vốn. Đến năm 2008, cuộc đua lãi suất của các ngân hàng đã được đẩy lên cao – mặt bằng lãi suất có lúc lên đến 19% - do các ngân hàng cần thanh khoản. Tuy nhiên, mặc dù mặt bằng lãi suất huy động năm 2008 rất cao nhưng tăng trưởng huy động lại giảm mạnh so với năm 2007, là do năm 2008 là 8 năm mà thị trường bất động sản đóng băng, do vậy phần lớn vốn nhàn rỗi từ dân cư đã đầu tư vào bất động sản trong năm trước đó cũng bị đóng băng trong bất động sản nên mặc dù lãi suất huy động của ngân hàng rất hấp dẫn nhưng người dân không còn tiền nhàn rỗi để gửi.
Nguyên nhân mà huy động vốn tăng trưởng trở lại vào năm 2009 – 2010 là do năm 2009 – 2010 thị trường bất động sản hồi phục đã giải phóng một lượng lớn nguồn vốn, đồng thời trong khi dấu hiệu hồi phục chưa rõ ràng của thị trường bất động sản làm người dân e ngại không dám đầu tư vào thị trường này thì mặt bằng lãi suất của ngân hàng vẫn được duy trì ở mức cao – khoảng 12% (theo số liệu thu thập trong báo cáo thường niên của NHNN năm 2009 – 2010) – đã thu hút tiền gửi từ dân cư vào ngân hàng vì lúc này ngân hàng trở thành kênh trú ẩn và đầu tư an toàn. Trước bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao liên tục trong các năm 2007 – 2010 thì đến năm 2011 NHNN đã có những động thái can thiệp điều chỉnh thị trường: từ cuối tháng 9/2011 đến cuối tháng 3/2013, NHNN đã 8 lần điều chỉnh trần lãi suất huy động tiền gửi VND với mục đích khơi thông nguồn tín dụng đang bị tắc nghẽn, giảm chi phí vốn, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Năm 2015, lãi suất giảm tiếp từ 1,5%–2%/năm và duy trì cho đến thời điểm hiện nay, tuy vậy lượng tiền gửi vẫn tăng đều qua các năm chứng tỏ gửi tiền vào ngân hàng vẫn là kênh đầu tư thu hút khách hàng, đặc biệt khi ở thời điểm hiện tại các kênh đầu tư khác không còn hấp dẫn. Đến hết năm 2017, tổng vốn huy động của các NHTM đạt mức 4,6 triệu tỷ đồng, tăng 14,9% so với năm 2016.
Trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là 3 NHTM cổ phần có vốn nhà nước chi phối là NHTM cổ phần Ngoại Thương, NHTM cổ phần Công Thương và NHTM cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam với 50,44% thị phần. Tuy nhiên sang năm 2018, tăng trưởng nguồn vốn huy động giảm xuống còn 12,6% - mức thấp nhất trong những năm gần đây (Biểu 2.2), mà một trong những nguyên nhân là do sự giảm tốc của tăng trưởng tín dụng đã làm giảm nhu cầu nguồn vốn huy động để cho vay của các ngân hàng. Tăng trưởng nguồn vốn huy động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007–2018 Đơn vị tính: %. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam có nhiều biến động trong các năm 2007 – 2018, đặc biệt là trong các năm 2007 – 2011 (Biểu 2.
Cụ thể, tín dụng đã tăng trưởng mạnh vào năm 2007 nhưng lại giảm mạnh vào năm 2008, rồi tăng vọt và đạt kỷ lục vào năm 2009 ở mức 44.8%, sang năm 2010 thì điều chỉnh giảm nhẹ và đến năm 2011 thì giảm mạnh còn 17. Sự bùng nổ tín dụng trong năm 2007 có thể là kết quả của chính sách tiền tệ nới lỏng. Tuy nhiên, do lạm phát tăng cao vào năm 2008 nên NHNN đã quyết định thắt chặt mạnh chính sách tiền tệ với việc phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc kỳ hạn 364 ngày với tổng giá trị 20.300 tỷ đồng để rút tiền khỏi lưu thông. Các NHTM bắt buộc phải mua và không được phép sử dụng tín phiếu này trong các nghiệp vụ tái cấp vốn với NHNN.
Tiếp theo đó, NHNN đã tăng mạnh tất cả các lãi suất điều hành, thực hiện đặt giới hạn tổng dư nợ tín dụng, thắt chặt tín dụng vào bất động sản và chứng khoán bằng cách giảm tỷ lệ chiết khấu giấy tờ có giá với mục đích kinh doanh chứng khoán và áp dụng hệ số rủi ro đối với cho vay bất động sản và chứng khoán lên đến 250% đã khiến tăng trưởng tín dụng chậm lại và lạm phát cũng dần hạ nhiệt. Mặt khác, năm 2008 xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm triển vọng kinh tế trong tương lai xấu đi, 10 nên các nhà sản xuất thu hẹp hoạt động, còn các ngân hàng lo ngại nợ xấu nên đã hạn chế cho vay và tích cực thu hồi nợ. Nhưng đến năm 2009, trước lo ngại về sự suy giảm của kinh tế Việt Nam do ảnh hưởng của kinh tế thế giới thì NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nới lỏng nhằm hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng, đồng thời Chính Phủ thực hiện gói hỗ trợ lãi suất để kích cầu nền kinh tế, đã làm hoạt động tín dụng diễn ra sôi nổi và kết quả là tăng trưởng tín dụng đạt mức kỷ lục vào năm 2009. Tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007–2018 Đơn vị tính: %.3 cho thấy, tăng trưởng tín dụng bắt đầu tăng trở lại từ năm 2013 và thiết lập đỉnh vào năm 2015, rồi sau đó giảm dần.
Nguyên nhân bắt đầu từ năm 2013 có sự tăng trưởng trở lại của tín dụng là do nền kinh tế có dấu hiệu khởi sắc. GDP tăng trưởng ở mức 5.