Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nợ xấu và các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại; Chương 3: Mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Giải pháp và kiến nghị 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về nợ xấu của Ngân hàng thương mại Theo các sách giáo khoa tài chính, các tác giả thường đưa ra những thuật ngữ về nợ xấu như “bad debt”, “non-performing loan”, “doubtful debt” hoặc là các khoản cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên. Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng. AEG thống nhất định nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Nói cách khác, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày.85 của Hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, 8 cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay thay thế” (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004). Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ giảm giá trị thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu.
Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Như vậy, từ các khái niệm trên, có thể hiểu về nợ xấu như sau: Thứ nhất, về mặt định lượng, nợ xấu là khoản nợ gốc hoặc nợ lãi quá hạn thanh toán trên 90 ngày; Thứ hai, về mặt định tính, nợ xấu là khoản nợ bị đánh giá là có dấu hiệu chắc chắn về khả năng không hoàn trả nợ đầy đủ.1 Tác động của nợ xấu 2.1 Tác động của nợ xấu đến hoạt động của Ngân hàng thương mại Nợ xấu ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng: Trường hợp ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao, nguồn vốn cho vay không thể thu hồi được trong khi vẫn phải chịu áp lực thanh toán các khoản tiền gửi và lãi huy động phát sinh thường xuyên, qua đó rất dễ dẫn đến tình trạng sụt giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Khả năng thanh khoản giảm đi khiến các ngân hàng thận trọng hơn trong công tác cho vay với khách hàng mới, thậm chí nhiều ngân hàng ngưng giải ngân hồ sơ vay mới mà chỉ duy trì dư nợ tín dụng hiện tại hoặc chỉ giải ngân đối với các khách hàng lâu năm, đồng thời tích cực đề ra các biện pháp xử 9 lý, thu hồi nợ xấu để cân đối nguồn vốn, giảm bớt gánh nặng cho vấn đề thanh khoản. Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Nợ xấu gia tăng đồng nghĩa với việc ngân hàng phải tăng khoản trích lập dự phòng rủi ro, quỹ dự phòng rủi ro tăng lên làm cho chi phí của ngân hàng gia tăng ngoài ý muốn, từ đó làm giảm lợi nhuận kinh doanh. Trường hợp món vay đã là nợ xấu nhưng không có biện pháp xử lý hoặc cơ cấu nợ phù hợp, tình trạng này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng ngày càng lớn đến báo cáo thu nhập của ngân hàng. Những món vay trên nhiều khả năng sẽ thành nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) hoặc nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) với tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể rất cao lần lượt là 50% và 100%, qua đó sẽ làm cho chi phí trích lập rủi ro của ngân hàng ngày một phình ra.
Trường hợp đây là những món vay lớn với giá trị tài sản chỉ vừa đủ để đảm bảo cho dư nợ vay thì tình hình tài chính của ngân hàng sẽ còn khó khăn hơn nhiều lần. Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng: Nợ xấu gia tăng, thanh khoản của ngân hàng gặp khó khăn, lợi nhuận kinh doanh giảm xuống làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các cổ đông và những người góp vốn đầu tư vào ngân hàng. Khi tình trạng nợ xấu không được khắc phục và cứ tiếp tục kéo dài, các cổ đông và những nhà đầu tư sẽ tìm cách thoái vốn do không còn giữ được niềm tin vào sự phát triển của ngân hàng như trước đây. Trường hợp thông tin về nợ xấu ngân hàng tăng cao xuất phát từ những lý do như sự thiếu trách nhiệm nghề nghiệp, đạo đức yếu kém của cán bộ ngân hàng, ngân hàng cố tình cho vay sai quy định, dẫn tới các tranh chấp pháp lý, thiệt hại tài sản, nguồn vốn… được đưa lên báo chí sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.
Từ việc tiếp cận các thông tin trên, ngày càng nhiều khách hàng sẽ rút khoản tiền gửi của họ tại ngân hàng do tâm lý không còn tin tưởng vào khả năng giữ tiền hộ của ngân hàng. Ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn trong việc huy động tiền gửi cũng như đặt quan hệ giao dịch với những khách hàng mới. Điều này làm khả năng cạnh tranh của ngân hàng suy giảm, thị phần bị thu hẹp, lợi nhuận kinh doanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn. 10 Nợ xấu có thể làm phá sản ngân hàng: Như đã đề cập ở trên, tỷ lệ nợ xấu tăng cao làm lợi nhuận, uy tín và thị phần kinh doanh của ngân hàng sụt giảm, khả năng thanh khoản bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Nếu tình trạng này kéo dài mà ban lãnh đạo ngân hàng không có các biện pháp khắc phục thiết thực, hiệu quả cũng như không có sự hỗ trợ cần thiết, kịp thời từ phía NHNN thì nguy cơ phá sản hoàn toàn có thể xảy ra.2 Tác động của nợ xấu đến khách hàng - Vấn đề đầu tiên mà khách hàng gặp phải khi để xảy ra tình trạng nợ xấu chính là việc sẽ bị các ngân hàng hạ thấp thông tin chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ. Qua đó ngân hàng sẽ tiến hành các biện pháp thu hẹp hạn mức cấp tín dụng, ngưng giải ngân hoặc thậm chí thu hồi nợ vay trước hạn. Việc cố tình không trả nợ và quyết định vay vốn tại các ngân hàng khác cũng không khả thi do thông tin lịch sử dư nợ của khách hàng lúc này đã được cập nhật trên Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC). Sẽ rất khó để ngân hàng khác đồng ý giải ngân cho một khách hàng đang còn hoặc có lịch sử nợ xấu tại một ngân hàng khác vào thời điểm thẩm định cho vay.
Khi xảy ra nợ xấu và khách hàng không có thiện chí để trả nợ, ngân hàng sẽ tiến hành các biện pháp khởi kiện, đấu giá, phát mãi tài sản để thu hồi nợ vay. Hành động này của ngân hàng khiến cho khách hàng rơi vào tình trạng không còn khả năng tự định đoạt phần tài sản này của mình. Trong khi nếu phải đấu giá tài sản thì người chịu thiệt nhiều khả năng là khách hàng với mức giá phát mãi hầu như lúc nào cũng thấp hơn giá trị tài sản khi giao dịch trên thị trường. - Riêng đối với các doanh nghiệp, nợ xấu phát sinh sẽ khiến cho doanh nghiệp không còn khả năng xin cấp hạn mức tín dụng mới hay đề nghị giải ngân tiếp tục từ phía ngân hàng, đồng thời việc đi vay tại một ngân hàng khác cũng hết sức khó khăn như đã đề cập ở trên.
Nguồn vốn vay không còn hoặc bị cắt giảm khiến cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với năng lực tài chính yếu kém, thị phần nhỏ bé, phải hoạt động sản xuất một cách cầm chừng, không đủ nguồn vốn để trang trải các khoản chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh, dẫn đến 11 tình trạng nhiều doanh nghiệp bị khánh kiệt, phá sản trong khi khoản nợ xấu ngân hàng thì vẫn còn đó.3 Tác động của nợ xấu đến nền kinh tế Nợ xấu tăng cao là nỗi lo của Chính Phủ, các chuyên gia, các NHTM cũng như toàn thể dân chúng bởi nó tác động đến toàn bộ nền kinh tế, làm tắc nghẽn dòng vốn đầu tư và đe dọa an toàn tài chính Quốc gia, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Các tác động tiêu cực của nợ xấu ảnh hưởng đến nền kinh tế có thể nhắc tới như: - Nợ xấu tăng tạo ra gánh nặng ngân sách trong vấn đề xử lý nợ xấu.