chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu, nêu lên tính cấp thiết của đề tài cũng như mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu được áp dụng trong đề tài này. Những định hướng trong chương này sẽ là tiền đề để tác giả xây dựng và trình bày nội dung ở các chương tiếp theo. 7 Chƣơng 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ SỐ AN TOÀN VỐN 2.
Khái niệm và ý nghĩa hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio) được xem là công cụ để đo khả năng chi trả các khoản nợ có thời hạn và đảm bảo các rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường,… Vì vậy, có thể nói hệ số CAR là thước đo mức độ an toàn và chống chọi lại những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ an toàn vốn được quy định trong Thông tư 22/2019 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng là chỉ số phản ánh mức độ đủ vốn của các ngân hàng dựa trên vốn tự có của ngân hàng. Đồng thời cũng phản ánh mức độ rủi ro của ngân hàng trong các hoạt động. Khái niệm an toàn vốn theo Hiệp ước Basel Vào những năm 1970 đến 1980, một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tiềm ẩn đang dần bùng nổ gây trì trệ trên mọi phương diện ngành nghề.
Năm 1974, các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 quốc gia phát triển hay còn biết đến với ký hiệu G10, đã thống nhất thành lập Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) tại thành phố Basel, Thụy Điển. Mục đích thành lập tổ chức nhằm thắt chặt lại sự kiểm soát hoạt động của các ngân hàng các nước thành viên. Tuy nhiên đến tận 14 năm sau khi thành lập, năm 1988, Ủy ban Basel mới chính thức công bố quy định đầu tiên về hệ thống đo lường vốn tên là Basel I. Hiệp ước này là quy định bắt buộc chấp hành đối với các nước thành viên, tuy nhiên các nước khác trên châu lục cũng đã tình nguyện tham gia.
Nội dung chính của Hiệp ước Basel I là quy định tỷ lệ vốn trên tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (RWA) không dưới mức tối thiểu 8%. 8 Để đáp ứng sự đổi mới liên tục phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính, sau một thời gian liên tục sửa đổi, tháng 6/2004, Hiệp ước Basel II được Ủy ban Basel ban hành nhằm khắc phục các khuyết điểm Basel I còn mắc phải và quy định nghiêm ngặt hơn về việc chấp hành các quy định của các ngân hàng. Hiệp ước mới có hiệu lực từ năm 2007 đến hết năm 2010. Dù Hiệp ước Basel II đã tiến bộ hơn Basel I và khắc phục được nhiều thiếu sót, song nó nhanh chóng bị “lỗi thời”.
Nền kinh tế thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ và 1 chu kỳ suy thoái lại tới. Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 nổ ra do bong bóng bất động sản đã tích lũy trước đó bùng nổ, gây ra hậu quả nặng nề cho toàn ngành Ngân hàng thế giới. Ngân hàng đầu tư lớn nhất nước Mỹ bấy giờ - Lehman Brother, với thâm niên trăm năm cũng đã không vượt qua được cú sốc tài chính này và tuyên bố phá sản, dẫn đến hàng loạt tổ chức tài chính khác phá sản theo. Sau khi vượt đợt đại thanh trừng này, Hiệp ước Basel III được ban hành ngày 12/9/2010 nhằm cố gắng ngăn chặn một cuộc khủng hoảng kinh tế khổng lồ khác sẽ xãy ra trong tương lai.
Tóm lại, theo Ủy ban Basel giám sát ngân hàng (The Basel Committee on Banking Supervision - BCBS), hệ số an toàn vốn là một chỉ số kinh tế phản ánh tình trạng vốn của ngân hàng đối với tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Chỉ số đại diện cho sức mạnh tài chính cũng như phản ánh mức độ an toàn hoạt động của ngân hàng. Ý nghĩa hệ số an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu không thể thiếu để đánh giá hoạt động kinh doan của ngân hàng. Thông qua tỷ lệ an toàn vốn, tùy vào mục đích đánh giá có thể đưa ra những kết luận khác nhau: - Đối với ngân hàng, tỷ lệ CAR thể hiện tình trạng vốn hiện tại của ngân hàng và khả năng đảm bảo an toàn trước những rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải trong hoạt động kinh doanh.
Tỷ lệ an toàn vốn còn là thước đo uy tín 9 của ngân hàng, đảm bảo sự an toàn của khách hàng. Đúng như cái tên là tỷ lệ an toàn, tỷ lệ này càng cao, khả năng chống chọi và vượt qua các biến cố tài chính và suy thoái, khủng hoảng kinh tế là càng lớn. - Đối với các nhà quản trị và Ngân hàng Nhà nước, hệ số CAR thể hiện tính an toàn của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. Tỷ lệ này phải cân bằng, phù hợp với bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước trong từng thời kì để đảm bảo không ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận ngân hàng.
Hệ số an toàn vốn có nét tương đồng với hệ số đòn bẩy tài chính, khi hệ số quá cao có nghĩa ngân hàng đang bỏ lỡ nhiều cơ hội gia tăng lợi nhuận; ngược lại, trong khi hệ số an toàn vốn quá thấp chứng tỏ rằng ngân hàng đang đối diện trước những nguy cơ tiềm tàng lên quan đến vốn là rất lớn. Từ tỷ lệ CAR, cùng với phân tích các số liệu về nền kinh tế, NHNN có thể kịp thời đưa ra các quy định nhằm kiểm soát, cải thiện hoạt động kinh doanh ngân hàng, từ đó phát triển nền kinh tế đất nước. - Hệ số an toàn vốn còn được sử dụng đối với các nhà đầu tư, dùng để đánh giá mức độ rủi ro khi đầu tư. Tuy theo “khẩu vị” và chiến lược của mỗi nhà đầu tư, dựa vào tỷ lệ an toàn vốn, các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định chọn ngân hàng đầu tư phù hợp.
Đo lƣờng hệ số an toàn vốn 2. Theo Hiệp ước Basel Ủy Ban Basel ban hành các Hiệp ước mới nhằm cải tiến, khắc phục các thiếu sót của Hiệp ước cũ theo thời gian. Hiện nay, Ủy ban Basel đã ban hành ba Hiệp ước Basel I, II và III. Đo lường theo Hiệp ước Basel I Năm 1988, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành hệ thống đo lường vốn và rủi ro tín dụng Basel I.
Theo yêu cầu của Basel I các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc trên tổng tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro (CAR) ở mức tối thiểu 10 8%. Đồng thời, Hiệp ước Basel I đã định nghĩa rõ ràng về các nguồn vốn của ngân hàng và phân loại theo mức độ chủ động của từng loại vốn. Các nguồn vốn được chia làm 3 cấp với mức độ tin cậy giảm dần từ cấp 1 tới cấp 3. Vốn cấp 3 không được sử dụng để xác định tỷ lệ an toàn vốn vì có mức độ tin cậy thấp nhất.
Basel I phân loại tài sản theo 4 loại mức rủi ro khác nhau là 0%, 20%, 50% và 100%. Mức độ rủi ro của các tài sản chỉ căn cứ nhóm khách hàng vay và tài sản đảm bảo của khoản vay mà không căn cứ vào quy mô món, thời hạn vay cũng như chỉ số tín nhiệm của khách hàng. Vì thế các quy định đo lường của Basel I mang tính tương đối. Ngoài ra Basel I chỉ mới tính đến rủi ro tín dụng mà chưa tính đến rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.
Đo lường theo Hiệp ước Basel II Năm 2004, Ủy ban Basel ban hành Basel II áp dụng thực hiện từ năm 2007 đến hết năm 2010. Nội dung Basel II gồm 3 trụ cột chính: trụ cột thứ nhất liên quan đến quy định tiếp tục duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc, trụ cột 2 và 3 quy định cụ thể hơn và nghiêm ngặt hơn quy trình đánh giá hoạt động và công bố thông tin. Theo trụ cột 1 tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% như quy định ở Basel I, tuy nhiên phần mẫu số để tính CAR là hệ số rủi ro của tài sản không chỉ phụ thuộc vào loại tài sản đảm khoản vay bảo và nhóm khách hàng vay mà còn phụ thuộc độ nhạy cảm từng loại tài sản đảm bảo và điểm tín nhiệm khách hàng vay. Sự thay đổi đã cải thiện một số thiếu sót trong quy định trước đó.
Đo lường theo Hiệp ước Basel III Mặc dù đã liên tục cải tiến và ban hành hai Hiệp ước Basel I và Basel II, tuy nhiên những quy định vẫn chưa đủ để giúp các ngân hàng vượt qua các đợt khủng hoảng. Vào ngày 12/9/2010 Ủy ban Basel ban hành Hiệp ước Basel III có hiệu lực từ năm 2013 đến hết năm 2019. Basel III đưa ra tiêu chuẩn về thanh khoản đối với các ngân hàng, cụ thể: Ngân hàng buộc phải dự trữ tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản và chất lượng cao để đảm bảo chi trả cho các khủng khoảng, khó khăn có thể xãy ra bất kì lúc nào. Đồng thời, Hiệp ước cũng đề ra phương pháp giám sát ngân hàng mới là 11 phương pháp giám sát vĩ mô.
Các yêu cầu trong quy định lần này có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu ngân hàng, vì vậy cần thời gian để ngân hàng ở các quốc gia thành viên có thể áp dụng thực hiện. Công thức tính hệ số an toàn vốn theo từng thời kỳ của Basel Nguồn: Tổng hợp từ trang www. Theo quy định tại Việt Nam Hiện nay các ngân hàng vẫn áp dụng quy định từ Thông tư 41/2016 TT-NHNN, tỷ lệ an toàn vốn CAR được xác định bằng công thức: Trong đó: C: Vốn tự có R WA : Tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng : Vốn yêu cầu cho rủi ro tín dụng : Vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường 12 Ngoài ra, theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất của các ngân hàng.