Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÉ Ý THỨC PHÁP LUẬT CUA CAN BỘ, CHIEN SĨ BINH CHUNG HÓA HỌC. Những van dé lý luận về ý thức pháp luật 1. Khai niệm y thức pháp luật Quá trình phát triển của xã hội, ở những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà xã hội phân chia thành giai cấp, nhà nước và pháp luật ra đời thì ý thức pháp luật cũng xuất hiện. Nó là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của các hệ tư tưởng và quan niệm trong xã hội.
Nó dần dan trở thành nhân tố quan trọng và không thé thiếu trong xã hội hiện dai. Nghiên cứu ý thức pháp luật dù dưới góc độ nào cũng hết sức có ý nghĩa cả về phương diện lí luận và thực tiễn. Có thé nói không có yếu tố nào của quá trình điều chỉnh pháp luật lại không liên quan hoặc thiếu đi sự chỉ phối của ý thức pháp luật, việc nghiên cứu ý thức pháp luật trong điều kiện quản lý xã hội bằng pháp luật không đơn thuần chỉ để nhận thức mà cần gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thê của lịch sử để thấy được vai trò và sự thích ứng của nó. Có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến ý thức pháp luật ở các góc độ khác nhau.
Mặc dù còn nhiều điều cần phải xem xét khi bàn về ý thức pháp luật, song hiện nay phần lớn đều cho rằng: Ý thức pháp luật là tổng thé những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm, tâm trạng, thái độ, tình cảm của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp ly khác, thé hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp đối với hành vi của các chủ thé trong xã hội. | Ý thức pháp luật tồn tại cùng nhiều hình thái ý thức xã hội khác nhau như: ý thức chính trị, ý thức dao đức, ý thức tôn giáo, ý thức thâm mf. Trong đó, ý thức pháp luật giữ vị trí quan trọng, trung tâm trong hệ thống ý thức xã hội. Ị Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.
Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, ý thức pháp luật được nhận diện theo từng cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, ý thức pháp luật luôn mang tính giai cấp. Ý thức pháp luật luôn chịu sự tác động đa chiều của nhiều yếu tố như nền tảng kinh tế, kết cầu xã hội, tương quan so sánh lực lượng, quan điểm, tư tưởng của lực lượng cầm quyền, xu thế thời đại. Suy cho cùng ý thức pháp luật chính là sản phẩm từng giai cấp trong sự phát triển lịch sử xã hội. Nó là tiền dé để xây dựng các giá trị, chuân mực pháp lý đối với xã hội, là cơ sở dé hình thành thế giới quan pháp lý chính thống trong xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, sự khác nhau về điều kiện sinh hoạt vật chất, tinh thần của mỗi giai cấp, tang lớp xã hội đã đem lại sự khác nhau nhất định về ý thức pháp luật giữa các giai cấp, tầng lớp. Trong đời sống pháp lí, ý thức pháp luật là nhân tố đóng vai trò quyết định chi phối trực tiếp đến tính chat, hiệu quả thực tế của các hoạt động pháp lí. Đặc điểm ý thức pháp luật Dưới góc độ tông quan, việc nghiên cứu ý thức pháp luật có thể rút ra những đặc điểm cơ bản, đó là: Ý thức pháp luật được coi là cơ sở, tiền đề thiết yếu dé tạo nên pháp luật. Pháp luật thực chất đó là chuẩn mực, thước đo hành vi và là đại lượng công bằng trong điều kiện có sự khác biệt của xã hội con người.
Cũng như mọi hình thái ý thức xã hội khác, ý thức pháp luật do tồn tại xã hội qui định. Các Mác đã viết: “Không phải ý thức của con người qui định tồn tại của họ, trái lại, chính tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”. Mặc dù vậy, ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối với tồn tại xã hội. Gắn liền với sự vận động và phát triển của xã hội, ý thức pháp luật tác động trở lại đối với tồn tại xã hội theo những chiều hướng khác nhau, nó là tích cự nếu là ý thức pháp luật tiến bộ, là tiêu cực nếu nó là ý thức pháp luật lạc hậu hoặc không phù hợp.
Ý thức pháp luật phản ánh điều kiện tồn tại xã hội và là cơ sở nhận thức dé cải tạo, phục vụ xã hội của con người. Trong quá trình vận động và phát triển, ý thức pháp luật có tính kế thừa trên cơ sở chọn lọc đôi với một sô nhân tô của ý thức pháp luật trước đó, * C.Ăngghen toàn tập (2004), tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. chăng hạn như các nguyên lí, học thuyết của pháp luật hoặc các tư tưởng, giá trị pháp lí ghi nhận về quyên con người. Trong ý thức pháp luật có bộ phận tư tưởng khoa học về pháp luật có thé vượt lên trước tồn tại xã hội.
Đối với hệ tư tưởng pháp luật thì tri thức khoa học là yếu tố cơ bản bởi nó có thé đem lại sự tồn tại khách quan đối với tồn tại xã hội. Trong những điều kiện nhất định, tư tưởng khoa học có tính dẫn đường, đi trước đối với tồn tại xã hội. Điều này không đơn thuần khang định sự độc lập tương đối của ý thức pháp luật so với ton tại xã hội mà nó là tiền dé tư tưởng — pháp lí trực tiếp góp phần phục vụ cho quá trình điều chỉnh pháp luật và công cuộc cải tạo xã hội trên thực té. Ý thức pháp luật có quan hệ va sự tác động qua lại với các hình thai ý thức xã hội khác của thượng tầng pháp lí.
Nhìn chung sự tác động của ý thức pháp luật với ý thức chính trị, ý thức dao đức, ý thức tôn giáo. luôn thé hiện ở sự đan xen, tương hỗ lẫn nhau trong quá trình ton tại và vận động. Sẽ là sự tác động tích cực nếu có sự phù hợp giữa ý thức pháp luật với các hình ý thức đó và ngược lại, đó sẽ là nhân tố cản trở lẫn nhau nếu giữa các phạm trù ý thức đó thiếu đi sự tương đồng cần thiết. Sự tác động qua lại giữa ý thức pháp luật đối với các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng pháp lí như nhà nước, pháp luật luôn là sự tương tác cơ bản và có ý nghĩa quan trọng nhất.
Ý thức pháp luật chi phối trực tiếp việc hình thành hệ thống cơ quan nhà nước và quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Y thức pháp luật là nhân tố tiền dé cho việc xây dựng pháp luật, t6 chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Cấu trúc của ý thức pháp luật Xem xét cấu trúc của ý thức pháp luật tức là xem xét các bộ phận hợp thành để tạo cơ sở quan trọng tìm ra các phương thức thích hợp nâng cao ý thức pháp luật. Ở góc độ chung, ý thức pháp luật với tính cách là hiện tượng xã hội có hai bộ phận hợp thành là: Tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.
Tư tưởng pháp luật là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng, học thuyết, trường phái lí luận về pháp luật. Tư tưởng pháp luật là bộ phận ở cấp độ lí luận có tinh khái quát, tính hệ thống cao được hình thành một cách tự giác. Tư tưởng pháp luật soi sáng cho tâm lý pháp luật, định hướng các hành vi pháp lí đối với các chủ thê pháp luật. Tư tưởng pháp luật phản ánh sâu sắc những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, đó là sự nhận thức lí luận về tồn tại xã hội.
Về mặt nội dung, tư tưởng pháp luật có thể có các nhân tố mang tính khoa học hoặc cũng có thé là phản khoa học. Tư tưởng pháp luật khoa học phản ánh đúng đắn các mối quan hệ vật chất của xã hội và qui luật phát triển khách quan của xã hội. Ngược lại, hệ tư tưởng pháp luật phản khoa học cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất của xã hội nhưng đó là sự phản ánh sai lầm, xuyên tạc và thiếu tính khách quan. Tư tưởng pháp luật không đơn thuần là sản phẩm của giai cấp cầm quyên sáng tạo nên mà nó còn hàm chứa các giá trị khoa học được đúc kết, kế thừa từ thực tế của nền văn minh pháp lí nhân loại.
Tư tưởng pháp luật được xây dựng trên cơ sở nén tảng tri thức pháp lí có tính kế thừa qua các giai đoạn phát triển. Tri thức pháp luật được hiểu là tong thé sự hiểu biết khoa học về pháp luật bao gồm cả phương diện lí luận, thực tiễn và đời sống pháp lí. Tri thức pháp lí được hình thành thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học; thông qua quá trình đào tạo chuyên ngành; thông qua hoạt động thực tiễn. Tâm lí pháp luật biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lí khác.
Cũng như tư tưởng pháp luật, tâm lí pháp luật cũng có thé mạng tính tích cực hoặc tiêu cực. Tuy nhiên, do tâm lí là yếu tố chủ quan nên việc nhận diện những đặc tính của nó đòi hỏi phải có quá trình lâu dài và cần phải thông qua các hành vi pháp luật thực tiễn. Mặt khác, tâm lí pháp luật mặc dù có tinh 6n định tương đối nhưng nó cũng có thê biến đổi khi môi trường kinh tế, chính trị, pháp lí có những thay đổi. Vì vậy, coi trọng yếu tô tâm lí pháp luật đòi hỏi phải quan tâm yếu tố con người trong các hoạt động thực tiễn và điều kiện tồn tại xã hội ở mỗi giai đoạn.
Tâm lí pháp luật thể hiện ở các khía cạnh như: xúc cảm, niềm tin pháp li; ý chí và thái độ pháp lí. Giữa tư tưởng pháp luật va tâm lí pháp luật có mối liên hệ tác động lẫn nhau vì chúng có chung nguồn gốc là tồn tại xã hội, cùng phản ánh tôn tại xã hội. Tư tưởng pháp luật chỉ dao tâm lí pháp luật va 10 quá trình xác lập hành vi thực tế của con người trong đời sống pháp lí. Tâm lí pháp luật là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của tư tưởng pháp luật.
Xúc cảm và niềm tin pháp lí được coi như cầu nối giữa cái bên ngoài (pháp luật, thực tiễn pháp lí.) với cái bên trong là nội tâm của chủ thé.