phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có hai chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của xử phạt vi phạm hành chính về nội dung thông tin trong hoạt động báo chí. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực trạng hoạt động xử phạt vi phạm hành chính về nội dung thông tin trong hoạt động báo chí ở Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ NỘI DUNG THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ 1. Vi phạm hành chính về nội dung thông tin trong hoạt động báo chí 1.
Khái niệm báo chí Ở Việt Nam, thuật ngữ “báo chí” được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội và trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì “báo chí” (báo: cho biết, chí: tạp chí) là “xuất bản phẩm có định kỳ đăng tin tức, bài viết, tranh ảnh để thông tin, tuyên truyền, vận động, nghiên cứu, nghị luận, đấu tranh tư tưởng”1. Một số người cho rằng “báo chí” là cách ghép nghĩa của hai thuật ngữ “báo” (thông báo) và “chí” (giấy), tức là “một bài viết trên giấy nhằm thông báo tin tức”2. Cách giải thích này vô hình trung đã dẫn đến cách hiểu “báo chí” chỉ bao gồm các loại báo in trên giấy mà không bao gồm các loại báo khác như báo hình, báo nói.
Theo Điều 3 Luật Báo chí năm 2016 thì: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử”. Từ định nghĩa trong Luật Báo chí năm 2016, có thể nhận thấy, báo chí là những xuất bản phẩm định kỳ nhằm báo cáo về các sự vật, hiện tượng hay con người nổi bật trong một khoảng thời gian nhất định mà xã hội quan tâm. Dưới góc độ xã hội, báo chí là một sản phẩm chứa đựng thông tin đại chúng nhất, năng động nhất trong các loại hình hoạt động truyền thông đại chúng hiện nay. Báo chí không đơn thuần chỉ là báo in mà còn có báo nói, báo hình và báo điện tử.
Theo đó, báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in. Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau. Báo hình là loại hình báo chí sử dụng chủ yếu hình ảnh, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau. Báo điện tử là loại hình 1 Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb.
Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 2 Udo Ulfkotte (2012), “The State of the News Media 2013: An Annual Report in German Journalism”, Journalist Review, No. 6 báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử.
Trong bốn loại hình báo chí kể trên thì báo in là loại hình truyền thống, loại báo này ra đời sớm nhất trong các loại hình truyền thông đại chúng. Báo điện tử là một loại hình báo chí mới nhưng có nhiều ưu điểm vượt trội so với các loại hình báo chí truyền thống như: khả năng tích hợp âm thanh, khả năng tích hợp hình ảnh động, khả năng tích hợp những chương trình tương tác. Báo điện tử có khả năng tìm kiếm các thông tin nhanh, người đọc có thể chủ động tìm kiếm các thông tin khác nhau theo nhu cầu cá nhân. Trong khi đó, báo nói, báo hình là những loại hình báo chí truyền thống, có khả năng mang lại thông tin chính xác với độ chân thật cao.
Xét về khía cạnh nội dung thông tin và hình thức giao tiếp, báo nói, báo hình có ưu điểm trong việc đưa thông tin nhanh. Điều này làm tăng tính trực tiếp, rút ngắn thời điểm sự kiện xảy ra với thời điểm công chúng tiếp nhận sự kiện. Trong mối tương quan giữa các loại hình báo chí kể trên thì báo in là loại hình công chúng có thể tiếp nhận thông tin hoàn toàn chủ động. Chủ động từ việc lựa chọn sản phẩm truyền thông theo nhu cầu đến việc lựa chọn không gian, thời gian để tiếp nhận.
Tương tự, đối với báo điện tử, công chúng hoàn toàn có thể chủ động lựa chọn sản phẩm truyền thông theo nhu cầu, nhưng lại phụ thuộc rất nhiều vào việc máy tính hay các thiết bị cá nhân có khả năng kết nối Internet hay không. Đối với báo nói và báo hình thì ưu điểm chính là khả năng thông tin thời sự nhanh nhạy nhưng công chúng lại không chủ động về thời gian theo dõi. Bên cạnh đó, báo nói và báo hình cũng gây ra những khó khăn khi cần lưu giữ chương trình hoặc tra cứu tư liệu. Về phương tiện kỹ thuật thì báo nói, báo hình và báo điện tử sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, đa phương tiện, phụ thuộc nhiều vào các phương tiện kỹ thuật.
Báo in sử dụng phương tiện kỹ thuật đơn giản hơn so với các loại hình báo chí kể trên. Về nội dung thì thông tin ở báo điện tử mang tính nhanh nhạy vì các tin tức mới nhất được cập nhật liên tục (từng giây, từng phút). Đối với báo in thì thông tin sâu hơn nhưng có phần chậm so với nhu cầu, thị hiếu của người đọc. Báo nói và báo hình thời lượng phát sóng có hạn nên những chương trình thông tin chưa đủ sâu và hơi ít, chủ yếu là giải trí.
Tính thời sự của báo điện tử, báo nói và báo hình cập nhật nhanh hơn so báo in do báo in phụ thuộc vào thời gian phát hành. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí 1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí Khi đề cập đến pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính thì một trong những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu là cơ sở của việc xử phạt. Cơ sở pháp lý của việc xử phạt vi phạm hành chính là có hành vi vi phạm được pháp luật quy định.
Việc nghiên cứu về khái niệm vi phạm hành chính vừa có ý nghĩa lý luận vừa mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa được đúng về vi phạm hành chính mới có thể xác định được các vi phạm hành chính cụ thể trong từng lĩnh vực. Xác định đúng vi phạm hành chính là yếu tố quan trọng để đảm bảo cơ sở xử phạt được chính xác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân. Vi phạm hành chính tuy không nguy hiểm bằng tội phạm nhưng lại diễn ra rất phức tạp, gây thiệt hại cho Nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cũng như cộng đồng xã hội. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí là một loại vi phạm hành chính.
Do đó, để hiểu được vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí thì phải xuất phát từ lý luận về vi phạm hành chính nói chung. Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do cá nhân, tổ chức thực hiện xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng không phải là tội phạm mà theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính3. Nhìn chung, cách hiểu này có những điểm tương đồng với định nghĩa về vi phạm hành chính của một số nước trên thế giới. Đơn cử, Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1996 định nghĩa: “vi phạm hành chính là hành vi vi phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức xử phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định”4.
Tương tự, Bộ luật xử phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa Liên bang Nga định nghĩa “vi phạm hành chính là hành động (không hành động) của thể nhân hoặc pháp nhân, trái pháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc 3 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nguyễn Cửu Việt chủ biên, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 4 Đỗ Hoàng Yến (2007), “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở một số nước trên thế giới”, Nghiên cứu lập pháp, số 107, tr.
8 các luật của Cộng hòa liên bang Nga quy định phải chịu trách nhiệm hành chính”5. Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm vi phạm hành chính được định nghĩa lần đầu tiên trong Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989. Theo đó, khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 quy định: “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Tuy nhiên, khái niệm này tồn tại quá nhiều điểm không hợp lý.
Cụ thể, khái niệm này thiếu các dấu hiệu về năng lực trách nhiệm hành chính của chủ thể và có sự không chính xác khi cho rằng các quy tắc quản lý nhà nước là khách thể của vi phạm hành chính6. Việc xác định khách thể của vi phạm hành chính là các quy tắc quản lý nhà nước dễ gây ra sự nhầm lẫn với khách thể của vi phạm kỷ luật nhưng không bao gồm được các quan hệ xã hội liên quan đến sở hữu nhà nước, các quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân7. Bên cạnh đó, khái niệm này tuy cho thấy được các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính là: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, tính có lỗi và bị xử phạt hành chính nhưng công thức “mà không phải là tội phạm hình sự” rất dễ làm cho chủ thể có thẩm quyền hiểu lầm để tự cho mình có quyền đánh giá hành vi vi phạm pháp luật nào là vi phạm hành chính, do đó xem nhẹ việc tuân thủ những căn cứ của pháp luật8.