Chương 1 trình bày những vấn đề lý luận chung về thi hành án dân sự và thi hành án dân sự liên quan đến xử lý tài sản thế chấp ngân hàng trong thi hành án. Chương này sẽ đưa ra những khái niệm, nguyên tắc chung của hoạt động 6 thi hành án dân sự nói chung và hoạt động thi hành án dân sự có liên quan đến xử lý tài sản thế chấp ngân hàng trong thi hành án dân sự. Nội dung Chương 2 trình bày thực trạng hoạt động xử lý tài sản thế chấp ngân hàng trong thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chương này sẽ phân tích các quy định trình tự, thủ tục thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng gắn với thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng thời cũng nêu lên những bất cập của quy định pháp luật có liên quan. Nội dung Chương 3 đề xuất một số định hướng, kiến nghị, giải pháp nhằm giải quyết những bất cập ở Chương 2, góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành án dân sự liên quan đến xử lý tài sản thế chấp ngân hàng để thu hồi nợ. 7 Chương1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP NGÂN HÀNG ĐỂ THU HỒI NỢ TRONG THI HÀNH ÁN 1. Lý luận chung về thi hành án dân sự 1.
Một số khái niệm trong thi hành án dân sự *Khái niệm thi hành án dân sự Thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức, đưa các bản án, quyết định của Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp, được thi hành trên thực tế, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Thi hành án dân sự là hoạt động do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật, cụ thể và trực tiếp là Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014. Các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được tổ chức thi hành bởi cơ quan thi hành án dân sự được quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự gồm:[47] - Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; - Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; - Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; - Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; - Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; - Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; - Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. *Khái niệm tài sản Tài sản là một khái niệm được sử dụng phổ biến và xuất hiện từ rất sớm trong đời sống xã hội loài người.
8 Theo nghĩa triết học: Tài sản là một dạng tồn tại của vật chất có giá trị kinh tế, phục vụ cho các nhu cầu của con người, do con người kiểm soát và khai thác. Theo thuật ngữ kế toán kinh doanh: “Tài sản chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước, có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên”. Theo nghĩa rộng: “Tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị, một khái niệm rộng và không giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra” [37].
Với các khái niệm nêu trên, ở mức chung nhất, tài sản được hiểu là những thứ gì có giá trị, do con người sở hữu và nó mang lại lợi ích cho con người. Dưới góc độ pháp lý, tài sản được quy định trong Luật dân sự năm 2005, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản [41]. Vật là bộ phận của thế giới vật chất giới hạn trong không gian và có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của con người và con người có khả năng chiếm hữu được. Tiền là một loại tài sản đặc biệt, có đặc điểm: không thể khai thác công dụng từ chính tờ tiền hay đồng xu đó; thực hiện ba chức năng: thanh toán, tích lũy, định giá các loại tài sản khác; do nhà nước độc quyền phát hành; được xác định số lượng thông qua mệnh giá và chủ sở hữu không được tiêu hủy.
Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định pháp luật, giá trị được thành tiền và được phép giao dịch. Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà người ta có thể phân chia tài sản thành nhiều loại: động sản và bất động sản; tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức; tài sản vô hình và tài sản hữu hình; tài sản có đăng ký quyền sở hữu và tài sản không có đăng ký quyền sở hữu; tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai; tài sản cấm lưu thông, hạn chế lưu thông, tự do lưu thông. 9 Việc phân loại tài sản có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt trong hoạt động áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để vay tiền tại ngân hàng. Như vậy, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản có giá trị kinh tế, khả năng phục vụ nhu cầu nhất định của con người, sinh lợi và chuyển dịch trong quan hệ dân sự.
*Khái niệm tài sản thế chấp Tài sản thế chấp là tài sản mà bên thế chấp dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp [9]. Theo luật định, tài sản được dùng để thế chấp phải đáp ứng các điều kiện nhất định. Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch. Đối tượng thế chấp là tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai, vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết [41].
Điều kiện đối với tài sản thế chấp: - Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác [41]. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ là bên thế chấp có thể thế chấp tài sản không thuộc sở hữu của mình, như đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước được sử dụng tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự [9].
- Tài sản thế chấp phải được phép giao dịch: Là tài sản không bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm. 10 - Ngoài hai điều kiện trên, đối với quyền sử dụng đất khi thế chấp phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Luật Đất đai năm 2013[45]. Bên cạnh về những điều kiện tài sản thế chấp nêu trên, pháp luật về tổ chức tín dụng Việt Nam còn yêu cầu loại tài sản này phải không có tranh chấp tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp, tức là tài sản minh bạch về mặt pháp lý. Đồng thời đối với các tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì bên bảo đảm phải mua và phải nộp phí bảo hiểm trong suốt thời gian tài sản đó được đưa vào làm nghĩa vụ bảo đảm.
Để bảo đảm cho việc xử lý tài sản thế chấp, trong trường hợp người vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ nên tài sản thế chấp phải có khả năng thanh khoản. Yêu cầu này có vai trò rất quan trọng giúp ngân hàng xử lý hoặc yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý nhằm thu lại các khoản nợ mà ngân hàng đã cho khách hàng vay. Tóm lại, tài sản thế chấp là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp và được phép giao dịch mà bên thế chấp dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp. *Khái niệm xử lý tài sản thế chấp Hoạt động tín dụng của các ngân hàng là hoạt động huy động vốn để cấp tín dụng, tức các ngân hàng đi vay để cho vay lại.
Nguồn vốn mà các ngân hàng cho khách hàng vay không hoàn toàn là nguồn vốn tự có của các ngân hàng mà phần lớn là nguồn vốn do ngân hàng huy động. Nhiệm vụ của ngân hàng trong hoạt động tín dụng là bảo toàn và phát triển nguồn vốn đã huy động được để hoàn trả vốn và lãi cho người gửi tiền. Để bảo đảm được yêu cầu này, khi cho vay các ngân hàng phải có cơ chế phòng ngừa rủi ro, kể cả việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.Vấn đề này đã được dự liệu trong Bộ luật dân sự 2005: Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện [41]. Xử lý tài sản thế chấp là hoạt động theo đó một bên hoặc cả hai bên tham gia quan hệ thế chấp tiến hành các biện pháp do luật định hoặc thỏa thuận để giải 11 quyết nợ giữa người vay và ngân hàng.
Hoạt động này được thực hiện theo phương thức do các bên thỏa thuận hoặc bán đấu giá theo quy định của pháp luật.