Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế dựa vào hệ thống ngân hàng như tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gian huy động và phân bổ nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng với sự tăng trưởng của dư nợ tín dụng, rủi ro khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ luôn tiềm ẩn, đe dọa trực tiếp đến thanh khoản và sự an toàn của toàn hệ thống ngân hàng. Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là công cụ pháp lý và thực tế trọng yếu nhất nhằm giúp tổ chức tín dụng thu hồi vốn gốc, lãi, giảm thiểu tổn thất tài chính.

Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng thông qua các cơ chế thí điểm như quyền thu giữ tài sản bảo đảm hay áp dụng thủ tục rút gọn tại Tòa án. Theo số liệu tham luận của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tại hội thảo ngày 04 tháng 11 năm 2021, toàn hệ thống đã xử lý được 361,4 nghìn tỷ đồng trên tổng số 424,1 nghìn tỷ đồng nợ xấu sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 được ban hành. Dù vậy, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: thủ tục rút gọn chưa được Tòa án thụ lý áp dụng trên thực tế; con nợ có thái độ bất hợp tác, cản trở thi hành trong khi chế tài chưa đủ nghiêm khắc; Nghị quyết số 42/2017/QH14 là văn bản thí điểm có thời hạn thi hành trong khi nợ xấu mới tiếp tục phát sinh do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Về phương diện lập pháp, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 15 tháng 05 năm 2021 thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã tạo lập khung điều chỉnh mới đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây chưa kịp thời cập nhật các nội hàm mới này, đồng thời chưa có đề tài nào đi sâu khảo sát việc xử lý tài sản bảo đảm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Phòng giao dịch Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Từ bối cảnh thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định mục đích nghiên cứu là đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và kiến nghị nâng cao hiệu quả thi hành việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn. Để đạt được mục đích đó, tác giả đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích lý luận về bảo đảm tiền vay, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và khung pháp luật điều chỉnh hoạt động này.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang; chỉ ra những hạn chế, vướng mắc pháp lý và rào cản thực tế.
  3. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và kiến nghị các biện pháp cụ thể đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quan điểm lý thuyết, quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và các vấn đề phát sinh trong hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Việt Nam, có liên hệ, đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia (Pháp, Hoa Kỳ) và khảo sát thực tế tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu, số liệu thống kê được giới hạn trong 5 năm, từ năm 2017 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên nền tảng lý luận của luật dân sự và luật ngân hàng về giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm. Bản chất của xử lý tài sản bảo đảm tiền vay được xác định là biện pháp cưỡng chế dân sự nhằm thu hồi nợ, hoàn toàn không phải hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

Khung văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn và sử dụng trực tiếp làm căn cứ lý thuyết bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (các quy định về cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, xử lý tài sản bảo đảm tại các điều 297, 299, 300, 303, 305, 306, 307, 308, 309, 317, 335, 338, 344).
  • Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đặc biệt là Điều 95 về chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ.
  • Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (quy định về nguyên tắc xử lý nợ, quyền thu giữ tài sản bảo đảm, thứ tự ưu tiên thanh toán tại Điều 3, Điều 5, Điều 7, Điều 12).
  • Nghị định số 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP).
  • Các văn bản quy phạm và hướng dẫn liên quan: Luật Quản lý nợ công năm 2017; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước; Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN; cùng quy định nội bộ của BIDV là Quy định số 7347/QyĐ-BIDV của Tổng Giám đốc BIDV về yêu cầu bàn giao và thu giữ tài sản bảo đảm.
  • Nguồn tài liệu so sánh: Các quy định về quyền xử lý tài sản bảo đảm của chủ nợ trong Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp và quy định về quyền ưu tiên của chủ nợ có bảo đảm qua đăng ký giao dịch theo Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code - UCC 9).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để làm rõ các khái niệm, bản chất pháp lý của từng biện pháp bảo đảm và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm.
  • Phương pháp diễn giải và so sánh pháp luật: Dùng để đối chiếu các quy định giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài, so sánh sự thay đổi giữa Nghị định số 163/2006/NĐ-CP trước đây và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP hiện hành.
  • Phương pháp khảo sát thực tế và thống kê số liệu: Thu thập thông tin, số liệu hoạt động xử lý nợ xấu và dư nợ phân loại tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn trong giai đoạn 2017 - 2021 từ các báo cáo nghiệp vụ nội bộ của chi nhánh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về bảo đảm tiền vay bằng tài sản, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và khung pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo đảm tiền vay và định vị mối quan hệ giữa biện pháp bảo đảm với xử lý tài sản bảo đảm. Khóa luận phân tích hai nhóm biện pháp bảo đảm tiền vay: bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm không bằng tài sản (bảo đảm tín chấp).

Nhóm bảo đảm bằng tài sản được phân tích chi tiết theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015:

  • Cầm cố tài sản (Điều 309): Bắt buộc có sự chuyển giao tài sản từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố hoặc bên thứ ba giữ.
  • Thế chấp tài sản (khoản 1 Điều 317): Không có sự chuyển giao tài sản; bên thế chấp tiếp tục nắm giữ, khai thác tài sản, tạo điều kiện duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba (Điều 335, Điều 338): Có sự tham gia của ba chủ thể, bên bảo lãnh cam kết dùng tài sản thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ.
  • Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Tài sản mang tính tương lai, chưa sẵn có tại thời điểm giao kết hợp đồng, đòi hỏi phải xác định được quyền sở hữu/sử dụng và khả năng giao dịch.

Ngược lại, biện pháp bảo đảm không bằng tài sản gồm tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội (Điều 344 BLDS năm 2015) và bảo lãnh của Chính phủ (khoản 20 Điều 3 Luật Quản lý nợ công năm 2017) không phát sinh việc xử lý tài sản bảo đảm khi có vi phạm nghĩa vụ.

Về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm, tác giả chỉ ra rằng sau khi Nghị định số 163/2006/NĐ-CP bãi bỏ Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, pháp luật Việt Nam đã hợp nhất quy định về giao dịch bảo đảm dân sự và bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng. Hoạt động xử lý tài sản bảo đảm phải tuân thủ bốn nguyên tắc: tôn trọng thỏa thuận; công khai, minh bạch, khách quan và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên; xử lý nhanh chóng, kịp thời; và xử lý dựa trên căn cứ luật định hoặc thỏa thuận.

Tiêu chí Cầm cố tài sản Thế chấp tài sản Bảo lãnh bằng tài sản bên thứ ba
Căn cứ pháp lý Điều 309 BLDS năm 2015 Khoản 1 Điều 317 BLDS năm 2015 Điều 335 BLDS năm 2015
Chuyển giao tài sản Có chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm/bên thứ ba giữ Không chuyển giao tài sản; bên thế chấp giữ hoặc gửi bên thứ ba Tùy thuộc biện pháp cầm cố hay thế chấp tài sản của bên thứ ba
Chủ thể tham gia Bên cầm cố - Bên nhận cầm cố Bên thế chấp - Bên nhận thế chấp Bên bảo lãnh - Bên nhận bảo lãnh - Bên được bảo lãnh
Đối tượng tài sản Động sản, bất động sản, giấy tờ có giá, vật chất có giá trị Động sản, bất động sản, quyền tài sản, tài sản hình thành tương lai Tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba

Khóa luận phân loại các phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 thành: bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; bán đấu giá tài sản; bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ; bên nhận bảo đảm nhận tiền/tài sản từ người thứ ba (thế chấp quyền đòi nợ hoặc bên bảo lãnh); và phương thức khác do các bên thỏa thuận.

Trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm thông thường được tác giả khái quát qua quy trình 5 giai đoạn:

  1. Giai đoạn 1: Thông báo xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên liên quan.
  2. Giai đoạn 2: Thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý.
  3. Giai đoạn 3: Định giá tài sản bảo đảm (tự thỏa thuận hoặc thuê tổ chức thẩm định giá).
  4. Giai đoạn 4: Tiến hành xử lý theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo bản án/quyết định của Tòa án.
  5. Giai đoạn 5: Thanh toán số tiền thu được từ việc xử lý tài sản theo thứ tự ưu tiên luật định.

Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và thực tiễn thi hành tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Phòng giao dịch Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang

Chương 2 đi sâu vào thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai cụ thể tại địa bàn huyện Lục Ngạn. Về quyền của tổ chức tín dụng, khóa luận phân tích:

  • Quyền đối kháng với người thứ ba (Điều 297 BLDS năm 2015): Phát sinh từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc nắm giữ tài sản, tạo cơ sở pháp lý truy đòi tài sản và quyền ưu tiên thanh toán theo Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015, có nét tương đồng với quy định tại UCC 9 của Hoa Kỳ.
  • Quyền thu giữ tài sản bảo đảm (Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Quy định số 7347/QyĐ-BIDV): Cho phép tổ chức tín dụng thu giữ tài sản khi đủ điều kiện luật định. Khoản 5 Điều 7 Nghị quyết số 42 quy định sự tham gia chứng kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã và Công an nơi thu giữ. Tuy nhiên, Bộ Công an chưa ban hành văn bản quy phạm hướng dẫn chi tiết về cơ chế phối hợp của lực lượng công an các cấp, dẫn đến việc hỗ trợ đôi khi phụ thuộc vào quan hệ cá nhân hoặc nhận thức của địa phương. Tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn, nhờ chủ động phối hợp, liên hệ trước với Công an và Ủy ban nhân dân các xã trên địa bàn huyện Lục Ngạn theo Điều 25 Quy định số 7347/QyĐ-BIDV, hoạt động thu giữ chưa phát sinh điểm nóng nghiêm trọng.
  • Quyền và nghĩa vụ định giá tài sản (Điều 306 BLDS năm 2015 và Điều 10 Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN): Quy định trường hợp tổ chức tín dụng tự bán tài sản không qua đấu giá, bên bảo đảm có quyền chọn tổ chức định giá trong 15 ngày; nếu không chọn được, tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn. Mức hạ giá không được quá 10%/lần, cách nhau ít nhất 30 ngày đối với bất động sản và 15 ngày đối với động sản. Sau 3 lần hạ giá không bán được, tổ chức tín dụng mới được quyền nhận chính tài sản để bù trừ nghĩa vụ.
  • Quyền nhận chính tài sản bảo đảm (Điều 305 BLDS năm 2015): Pháp luật Việt Nam chỉ cho phép tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm khi có sự thỏa thuận trước trong hợp đồng. Điểm này hạn chế quyền chủ nợ hơn so với Điều 2346 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (cho phép chủ nợ yêu cầu Tòa án trao tài sản bảo đảm để thanh toán kể cả khi không có thỏa thuận trước).
  • Nghĩa vụ thông báo trước khi xử lý (Điều 300 BLDS năm 2015 và khoản 4 Điều 51 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP): Nếu không có thỏa thuận, thời hạn thông báo là trước ít nhất 10 ngày đối với động sản và 15 ngày đối với bất động sản. Tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn, cán bộ tín dụng thực hiện gửi văn bản qua bưu chính, gọi điện thoại và gửi email để bảo đảm chứng cứ pháp lý.
  • Về kết quả xử lý nợ và phân loại nợ: Tác giả dẫn chiếu số liệu tại hai bảng tổng hợp trong chương: Bảng 2.1 (Số liệu thống kê xử lý nợ xấu tại BIDV - PGD Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 – 2021, trang 44) và Bảng 2.2 (Thống kê dư nợ phân chia theo nhóm nợ tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 - 2021, trang 53).
Quy định / Phương thức Căn cứ pháp lý Thực trạng áp dụng tại BIDV - PGD Lục Ngạn Vướng mắc, bất cập ghi nhận
Quyền thu giữ tài sản Điều 7 NQ 42/2017/QH14; Quy định 7347/QyĐ-BIDV Áp dụng theo quy trình nội bộ, phối hợp với Công an và UBND cấp xã trên địa bàn huyện Lục Ngạn Bộ Công an chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể; TCTD không có quyền cưỡng chế trực tiếp
Thời hạn thông báo xử lý Khoản 4 Điều 51 NĐ 21/2021/NĐ-CP Thông báo bằng văn bản gửi bưu chính, gọi điện, email; tối thiểu 10 ngày (động sản), 15 ngày (bất động sản) Khách hàng cố tình né tránh nhận thông báo, kéo dài thời gian bàn giao tài sản
Định giá và hạ giá tự bán TTLT 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN Thỏa thuận mức giá hoặc thuê tổ chức thẩm định giá; hạ giá tối đa 10%/lần Quy trình hạ giá sau 3 lần kéo dài làm tài sản khấu hao, giảm giá trị thực tế
Nhận chính TSBĐ Điều 305 BLDS năm 2015 Chỉ áp dụng khi có thỏa thuận rõ trong hợp đồng tín dụng/hợp đồng bảo đảm Phải có thỏa thuận trước; khách hàng và ngân hàng khó thống nhất khi nợ lớn hơn giá trị tài sản
Nghĩa vụ trả nợ còn thiếu Khoản 3 Điều 307 BLDS năm 2015 Khách hàng phải tiếp tục trả phần nợ còn thiếu sau khi phát mại Thiếu tính khả thi do khách hàng đã mất khả năng tài chính và không còn tài sản khác

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Phòng giao dịch Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang

Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể:

  1. Quan điểm hoàn thiện: Hoàn thiện pháp luật phải cân bằng quyền lợi giữa bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm; bảo vệ người gửi tiền; giữ vững an toàn hệ thống tài chính; và tạo hành lang pháp lý minh bạch cho việc vận hành cơ chế thị trường trong xử lý nợ.
  2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
  • Luật hóa các quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 nhằm khắc phục tính chất tạm thời của văn bản thí điểm, tạo khung pháp lý ổn định về xử lý nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
  • Bộ Công an cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết quy trình, trách nhiệm của lực lượng công an cấp cơ sở trong việc phối hợp hỗ trợ tổ chức tín dụng thu giữ tài sản bảo đảm.
  • Sửa đổi quy định tại Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng cho phép tổ chức tín dụng được nhận chính tài sản bảo đảm để cấn trừ nghĩa vụ ngay cả khi các bên không có thỏa thuận trước, với điều kiện có cơ chế định giá độc lập hoặc thông qua quyết định của cơ quan tài phán.
  • Hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn tại Tòa án đối với các tranh chấp liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm để rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.
  1. Kiến nghị thực thi đối với BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn:
  • Nâng cao chất lượng thẩm định giá tài sản bảo đảm ngay từ khâu cấp tín dụng ban đầu, bám sát giá trị thị trường và tính thanh khoản trên địa bàn huyện Lục Ngạn.
  • Tăng cường kiểm tra, giám sát sau cho vay để phát hiện sớm các dấu hiệu vi phạm mục đích sử dụng vốn hoặc nguy cơ suy giảm giá trị tài sản bảo đảm.
  • Hoàn thiện kỹ năng nghiệp vụ và pháp lý cho đội ngũ cán bộ tín dụng về quy trình thông báo, thu giữ tài sản theo đúng Quy định số 7347/QyĐ-BIDV.
  • Duy trì và củng cố mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân và Công an các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Lục Ngạn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các phát hiện thực tế và đóng góp học thuật:

  • Hệ thống hóa dữ liệu xử lý nợ: Dẫn chứng số liệu từ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy sau khi ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14, toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý được 361,4 nghìn tỷ đồng trên tổng số 424,1 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Khóa luận cung cấp các bảng thống kê nội bộ về xử lý nợ xấu (Bảng 2.1) và phân loại dư nợ theo nhóm nợ (Bảng 2.2) tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn trong 5 năm (2017 - 2021).
  • Chỉ rõ bất cập của quy định tại khoản 3 Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015: Quy định bên bảo đảm phải trả tiếp số nợ còn lại sau khi đã phát mại hết tài sản bảo đảm mang tính hình thức, thiếu khả thi trong thực tiễn vì một khi khách hàng đã để nợ quá hạn và phải cưỡng chế tài sản thì thường không còn nguồn tài chính nào khác để thanh toán.
  • Nhận diện lỗ hổng cơ chế phối hợp thu giữ: Phân tích rõ hạn chế khi Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định sự có mặt của lực lượng Công an nhưng cơ quan quản lý ngành (Bộ Công an) chưa ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết, khiến quyền thu giữ của ngân hàng chưa thực sự được bảo đảm bằng quyền lực công.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Cập nhật toàn diện các điểm mới của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) về thời hạn thông báo xử lý tài sản (10 ngày đối với động sản, 15 ngày đối với bất động sản) và trách nhiệm bồi thường khi cản trở giao tài sản; đồng thời là công trình chuyên khảo đầu tiên phản ánh thực tiễn thi hành tại một phòng giao dịch cấp huyện (BIDV Lục Ngạn, Bắc Giang).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu: Tác giả tự thừa nhận công trình còn chịu những giới hạn nhất định về nguồn tài liệu, thời gian nghiên cứu và chiều sâu lý luận. Khảo sát thực tế mới dừng lại ở phạm vi một phòng giao dịch cấp huyện (Phòng giao dịch Lục Ngạn) trực thuộc chi nhánh ngân hàng thương mại, số liệu phân tích giới hạn trong giai đoạn 2017 - 2021.
  • Hướng mở rộng nghiên cứu: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên quy mô toàn bộ chi nhánh tỉnh Bắc Giang hoặc toàn hệ thống BIDV; đánh giá toàn diện tác động pháp lý khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 kết thúc thời gian thí điểm hoặc được nâng cấp thành Luật Xử lý nợ xấu; đi sâu phân tích các loại tài sản bảo đảm đặc thù như quyền tài sản, tài sản hình thành trong tương lai hoặc dự án đầu tư.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về khung lý thuyết giao dịch bảo đảm, sự phát triển của hệ thống văn bản từ Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đến Nghị định số 21/2021/NĐ-CP và Nghị quyết số 42/2017/QH14.
  • Cán bộ tín dụng, chuyên viên xử lý nợ và pháp chế ngân hàng: Tham khảo quy trình xử lý tài sản bảo đảm 5 giai đoạn, các yêu cầu pháp lý về thời hạn thông báo, cơ chế thu giữ tài sản bảo đảm theo Quy định số 7347/QyĐ-BIDV của BIDV và các lưu ý phối hợp với chính quyền địa phương cấp xã.
  • Nhà nghiên cứu chính sách: Cung cấp thêm chứng cứ thực tiễn về những vướng mắc của cơ chế áp dụng thủ tục rút gọn và việc thiếu hướng dẫn phối hợp của cơ quan công an trong xử lý nợ xấu.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận chỉ ra Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã khắc phục quy định mơ hồ nào về thời hạn thông báo xử lý tài sản bảo đảm trong Bộ luật Dân sự năm 2015?

Trước đây, khoản 1 Điều 300 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định chung chung bên nhận bảo đảm phải thông báo cho bên bảo đảm trong "thời hạn hợp lý" mà không giải thích rõ thời gian cụ thể. Khoản 4 Điều 51 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã chuẩn hóa thời hạn này: nếu các bên không có thỏa thuận thì việc thông báo phải thực hiện trước ít nhất 10 ngày đối với động sản hoặc trước ít nhất 15 ngày đối với bất động sản tính đến thời điểm xử lý tài sản bảo đảm (trừ trường hợp tài sản có nguy cơ hư hỏng bị xử lý ngay).

Theo tác giả, vướng mắc lớn nhất trong việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 là gì?

Vướng mắc lớn nhất là tính đến thời điểm tác giả nghiên cứu (tháng 5 năm 2022), Bộ Công an vẫn chưa ban hành văn bản quy phạm hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm, trình tự phối hợp của cơ quan Công an các cấp trong việc hỗ trợ tổ chức tín dụng thu giữ tài sản bảo đảm. Do đó, sự hỗ trợ của lực lượng chức năng tại cơ sở chủ yếu phụ thuộc vào thái độ và quan hệ phối hợp của từng địa phương, khiến tổ chức tín dụng chưa thực sự được bảo đảm quyền cưỡng chế thu hồi tài sản khi bên bảo đảm cố tình chống đối.

Quy định pháp luật Việt Nam về việc tổ chức tín dụng nhận chính tài sản bảo đảm khác gì so với Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp?

Theo Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, tổ chức tín dụng chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi các bên đã có thỏa thuận trước trong hợp đồng bảo đảm. Ngược lại, Điều 2346 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp cho phép người có quyền yêu cầu Tòa án ra phán quyết để nhận chính tài sản bảo đảm nhằm thanh toán nghĩa vụ nợ ngay cả khi trong hợp đồng bảo đảm không có thỏa thuận này.

Trình tự hạ giá tài sản bảo đảm khi tổ chức tín dụng tự bán không qua đấu giá được văn bản pháp luật nào điều chỉnh và mức hạ giá cụ thể là bao nhiêu?

Trình tự này được điều chỉnh bởi Điều 10 Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN. Trong trường hợp giá do tổ chức thẩm định giá đưa ra không được người mua chấp nhận, tổ chức tín dụng được phép hạ giá nhưng mức hạ giá không vượt quá 10%/lần; khoảng thời gian giữa các lần hạ giá phải cách nhau ít nhất 30 ngày đối với bất động sản và ít nhất 15 ngày đối với động sản. Nếu sau 3 lần hạ giá vẫn không bán được, tổ chức tín dụng mới được nhận tài sản để bù trừ nợ.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Dương Minh Nguyệt đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp luật về bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm, trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP. Công trình phản ánh trung thực thực trạng thi hành việc xử lý tài sản bảo đảm tại BIDV – Phòng giao dịch Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 - 2021, nhận diện rõ các vướng mắc về cơ chế phối hợp thu giữ và quy trình định giá tài sản. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các giải pháp lập pháp mang tính thực tế như luật hóa cơ chế xử lý nợ xấu, ban hành hướng dẫn phối hợp ngành công an và hoàn thiện quy trình nghiệp vụ tín dụng tại cơ sở.