Chương 1. Khái quát về xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong hoạt động cho thuê tài chính. Thực tiễn áp dụng pháp luật vào xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ tại các công ty cho thuê tài chính – kiến nghị và giải pháp. KHÁI QUÁT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM ĐỂ THU HỒI NỢ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.
Cơ sở lý luận về cho thuê tài chính và nợ phát sinh trong hoạt động cho thuê tài chính 1. Khái quát về cho thuê tài chính và sự phát triển của các công ty cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính với bên thuê tài chính. Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn cho thuê. Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính6.
Theo đó, tài sản cho thuê tài chính (sau đây gọi tắt là tài sản thuê chính) là máy móc, thiết bị hoặc tài sản khác theo quy định cụ thể của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ7. So với hình thức cấp tín dụng phổ biến nhất là cho vay vốn thì trong hoạt động cho thuê tài chính, thay vì cung cấp nguồn tài chính (như cho vay vốn) cho khách hàng để tự khách hàng đi mua tài sản phục vụ nhu cầu sản xuất của mình, thì bên cho thuê tài chính mua những tài sản, máy móc thiết bị đó thay khách hàng và trao cho khách hàng quyền sử dụng tài sản. Hoạt động này dễ gây nhầm lẫn với hoạt động cho thuê tài sản. Tuy nhiên, cho thuê tài sản không phải là một hình thức cấp tín dụng, và khác biệt cơ bản chính nằm ở tính hiện hữu của tài sản được cho thuê.
Nếu trong hoạt động cho thuê tài sản, 6 Khoản 7 Điều 3 Nghị định 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính. 7 Khoản 8 Điều 3 Nghị định 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính. 12 tài sản được cho thuê ngay từ đầu đã hiện hữu và thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, và việc bên cho thuê sở hữu tài sản được cho thuê không phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng tài sản của bên đi thuê thì trong hoạt động cho thuê tài chính, tài sản được cho thuê không hiển nhiên hiện hữu và thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê tài chính mà phụ thuộc nhu cầu sử dụng của bên cho thuê, việc tài sản hiện hữu và trở thành tài sản thuê tài chính khi và chỉ khi bên cho thuê tài chính thực hiện cam kết mua tài sản và giao tài sản thuê tài chính cho bên đi thuê sử dụng. Với những đặc điểm trên, cho thuê tài chính có thể nói là một loại hình cấp tín dụng khá đặc biệt.
Chính vì vậy, loại hình này có tác dụng hỗ trợ kịp thời nhu cầu về máy móc thiết bị trong sản xuất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. So với việc vừa phải lo tìm nguồn vốn và tính toán chi phí mua máy móc thiết bị cũng như tối đa hoá thời gian sử dụng của tài sản, thì việc sử dụng công cụ, máy móc thiết bị từ việc đi thuê tài chính để phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà không cần bỏ ra quá nhiều nhân lực và vật lực cho việc duy trì và quản lý tài sản là một giải pháp vô cùng kinh tế và hiệu quả cho doanh nghiệp. Aristotle đã từng phát biểu rằng “Sự giàu có thật sự không dựa trên quyền được sở hữu tài sản mà dựa trên quyền được sử dụng chúng”8 để chứng minh cho hiệu quả kinh tế mà loại hình cho thuê tài chính đem lại. Các hợp đồng cho thuê sớm nhất đã được phát hiện khoảng 5.
Các ghi chép cho thấy sự có mặt của một công ty cho thuê vào khoảng năm 1.800 trước công nguyên ở Babylonia. Khi các quân nhân không muốn sử dụng đất đai mà mình được nhà nước cấp để trồng trọt, họ sẽ cho thuê mảnh đất của mình cho công ty cho thuê đó. Công ty cho thuê đã chi trả tiền thuê cho quân nhân sở hữu mảnh đất và cho những người nông dân thuê lại chính mảnh đất đã được công ty thuê trước đó9.pl?lang=vi&page=history>. [Truy cập ngày: 06 tháng 06 năm 2018] 13 Người Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên phát triển việc cho thuê hầm mỏ.
Nhiều hầm mỏ với những kích cỡ khác nhau ở Athens đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và được các công ty khai thác mỏ đặc quyền thuê lại từ 3 đến 7 năm. Người Hy Lạp cổ đại cũng đi tiên phong tạo ra khái niệm cho thuê ngân hàng. Hợp đồng cho thuê ngân hàng đầu tiên được ký kết vào năm 370 trước công nguyên với nội dung bao gồm tên ngân hàng, tiền ký quỹ, các văn phòng và đội ngũ nhân viên của ngân hàng đó. Một trong những đạo luật đầu tiên liên quan đến hình thức cho thuê ở Vương Quốc Anh là Đạo Luật Wales được viết vào năm 1284.
Đạo Luật đã dựa trên những luật lệ về đất đai đang hiện hành lúc bấy giờ để làm khung pháp lý cho việc cho thuê bất động sản cũng như các dụng cụ, thiết bị trong ngành nông nghiệp. Sự chuyên chở của ngành đường sắt vào giữa thế kỷ 19 đã cho thấy rằng các doanh nghiệp nhỏ đã dùng vốn đầu tư của mình vào các chuyến xe goòng chở than đá rồi sau đó cho những công ty hầm mỏ thuê lại các xe này. Các hợp đồng cho thuê thường cho phép người đi thuê có quyền được mua lại các dụng cụ đó khi hết hạn hợp đồng. Cho thuê tài chính có nguồn gốc từ Hoa Kỳ.
Công ty cho thuê tài chính đầu tiên ở Hoa Kỳ do Henry Shoeld sáng lập vào năm 1952 để phục vụ cho ngành công nghiệp đường sắt. Theo sau đó là các nước châu Âu đã thành lập những công ty cho thuê tài chính vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960. Những bước cải tiến trong công nghệ khiến các doanh nghiệp phải nâng cấp nguồn vốn của họ thường xuyên hơn. Cho thuê tài chính đã giúp các doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận so với việc mua sắm hẳn trang thiết bị.
Mức thuế môi trường vào những năm 1950 phối hợp với nhiều mức thuế ưu đãi đã làm gia tăng mạnh mẽ số lượng các hợp đồng cho thuê được ký kết trên phạm vi toàn cầu. Trong khi đó, các quốc gia ở Châu Á, Nam Mỹ và Châu phi 14 ở giai đoạn này vẫn chưa phát triển hình thức cho thuê tài chính mãi cho đến những năm 1970 và 19809. Tại Việt Nam, hình thức cho thuê tài chính chính thức được khởi tạo bằng sự ra đời của công ty cho thuê tài chính Quốc tế Việt Nam (tên tiếng Anh viết tắt: VILC) vào năm 1996. Tính đến thời điểm cuối năm 2017, trải qua 21 năm hình thành và phát triển, cả nước có 11 công ty công ty cho thuê tài chính với giấy phép hoạt động còn hiệu lực.
Trong số này có 06 công ty là công ty con của các ngân hàng thương mại, 03 công ty cho thuê tài chính nước 100% vốn nước ngoài (KEXIM VLC, Chailease, VILC), 01 công ty trực thuộc tập đoàn Vinashin và 01 công ty với sự hợp tác giữa hai ngân hàng là ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng TNHH Tín thác Sumitomo Mitsui (BIDV-SuMi Trust)10. Hầu hết các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam hiện đang hoạt động tại 2 thành phố phát triển nhất của đất nước là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Các công ty cho thuê tài chính thuộc khối công ty con của ngân hàng thương mại tận dụng hệ thống, mạng lưới của ngân hàng mẹ để mở rộng phạm vi thông qua uỷ thác đến các chi nhánh ngân hàng; nhận hỗ trợ hoạt động về vốn, chiến lược kinh doanh và đôi khi là cả nguồn nhân lực từ ngân hàng mẹ. Khái niệm và phân loại nợ tại các công ty cho thuê tài chính Nợ, theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín 9 <http://www.pl?lang=vi&page=history>.
10 Theo nguồn thống kê từ trang web của Ngân hàng Nhà Nước.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/htctctd/tctdpnh/ctcttc;jsessionid=cuPTvK9nf8 0ZilcIO8CdxNmnmVVEiSNx4ariBjtsOssF_G2bVPgI!971056734!- 2033500564?_afrLoop=4734003460756000#%40%3F_afrLoop%3D4734003460756000%26centerW idth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse %26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3Doipepqaie_4>. [Truy cập ngày: 06 tháng 06 năm 2018] 15 dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 (gọi chung là Thông tư 02), là số tiền tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã gửi, giải ngân từng lần theo thỏa thuận đối với nợ phát sinh trong hoạt động ngân hàng như: cho vay; cho thuê tài chính; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; bao thanh toán; các khoản cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng; các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng; số tiền mua và ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết (Upcom) (sau đây gọi tắt là trái phiếu chưa niêm yết), không bao gồm mua trái phiếu chưa niêm yết bằng nguồn vốn ủy thác mà bên ủy thác chịu rủi ro; ủy thác cấp tín dụng; tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại tổ chức tín dụng trong nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và tiền gửi tại tổ chức tín dụng nước ngoài11. Đã là nợ sẽ luôn gắn liền với rủi ro, chính vì vậy, Thông tư 02 cũng định nghĩa về rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết12. Theo Thông tư này, việc phân loại nợ và cam kết ngoại bảng được thực hiện theo phương pháp định lượng và phương pháp định tính.