phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại; 3 (LUAN.giay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giay Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cầu Giấy; Chƣơng 4: Giải pháp tăng cường hoạt động xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cầu Giấy 4 (LUAN.giay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giay CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cùng với xu hướng phát triển chung trong lĩnh vực ngân hàng, các NHTM tại Việt Nam đang ngày càng phát triển cùng với sự phát triển chung của đất nước. Các ngân hàng đã phát huy vai trò huyết mạch của nền kinh tế, thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ, phát huy vai trò là kênh dẫn vốn cho thị trường, … Tuy nhiên hoạt động của các NHTM vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bên cạnh những rủi ro về lãi suất, tỷ giá, … rủi ro về nợ xấu là một rủi ro nghiêm trọng cần được giải quyết một cách triệt để, giảm thiểu tối đa nguy cơ gia tăng trở lại.
Nợ xấu được ví như cục máu đông của nền kinh tế, gây tắc nghẽn nền kinh tế, cản trở sự lưu chuyển vốn. Nợ xấu làm hạn chế quyền tiếp cận vốn của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua NHTM. Nợ xấu làm ảnh hưởng đến mức độ an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng và tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Vì vậy, xử lý và thu hồi nợ xấu tại các NHTM luôn là yêu cầu cấp bách đặt ra cho các ngân hàng.
Trên thực tế, đối với các NHTM ở Việt Nam nói chung, và trong hệ thống BIDV nói riêng, hoạt động xử lý và thu hồi nợ xấu còn gặp nhiều khó khăn, nhiều vấn đề còn tồn tại xoay quanh chất lượng cũng như hiệu quả của hoạt động xử lý và thu hồi nợ xấu. Xuất phát từ thực tiễn trên, trong thời gian qua vấn đề giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu tại các NHTM đã được rất nhiều các tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu trong các công trình khoa học, điển hình như: Nguyễn Thị Hoài Phương, 2012. Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Luận văn tiến sỹ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tác giả đã đề cập đến các hoạt động quản lý nợ xấu bao gồm nhận biết và phân loại nợ xấu, đo lường nợ xấu, ngăn ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2001-2011. Phạm vi đề tài nghiên cứu khá rộng, liên quan đến tất cả các ngân hàng thương mại. Vì vậy, số liệu và cách đánh giá mang tính tổng quát chung 5 (LUAN.giay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giay đối với hệ thống ngân hàng thương mại, không đi sâu phân tích xử lý nợ xấu của BIDV. Nguyễn Thị Thu Hiền, 2012.
Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai. Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Đà Nẵng. Tác giả đã phân tích thực trạng nợ xấu của Agribank chi nhánh tỉnh Gia Lai từ đó đưa ra giải pháp để hạn chế và xử lý nợ xấu tại chi nhánh song trong phần cơ sở lý luận tác giả chưa đưa ra được các nội dung của hoạt động xử lý, thu hồi nợ xấu. Luận văn tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai.
Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài hẹp, chỉ trong phạm vi một tỉnh nên các giải pháp xử lý phần nhiều còn mang tính xử lý tình huống. Nguyễn Đình Hảo, 2012. Giải pháp xử lý nợ xấu cho hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
Tác giả đã đưa ra giải pháp trên cơ sở thực trạng xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam song phần thực trạng chưa đề cập đến một số biện pháp xử lý nợ như hỗ trợ tài chính cho khách hàng, cho khách hàng tiếp tục vay để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, khởi kiện, … Nguyễn Thị Hà Yên, 2015. Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Công thương Việt Nam. Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Tài chính – Marketing. Thông qua việc phân tích thực trạng xử lý nợ xấu của NHTMCP Công thương Việt Nam, tác giả đã đưa ra một số giải pháp phù hợp với đặc thù, tiềm lực hoạt động của NHTM này.
Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra được các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động xử lý nợ xấu. Nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam. Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đồng quan điểm với các tác giả về các nội dung của hoạt động quản lý nợ xấu gồm: nhận biết và phân loại nợ xấu, đo lường nợ xấu, ngăn ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu, ngoài ra tác giả có đưa thêm chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động quản lý nợ xấu.
Tác giả nghiên cứu đề tài này tại Ngân hàng TMCP Hàng hải 6 (LUAN.giay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giay Việt Nam nên cũng có một số đặc thù riêng nên các giải pháp đưa ra phù hợp với hoạt động của ngân hàng. Trong số các công trình nghiên cứu đã được công bố, có một vài công trình tiếp cận chủ đề này tại một số NHTMCP khác hoặc tại BIDV nhưng chi nhánh khác, chưa có một công trình nào tiếp cận chủ đề này tại tại BIDV Cầu Giấy trong vài năm gần đây. Hơn nữa, các công trình nghiên cứu đó mỗi tác giả lại sử dụng các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động xử lý nợ xấu khác nhau, chưa được hệ thống đầy đủ dựa trên các nguồn tài liệu có nguồn gốc rõ ràng. Nên trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, đồng thời căn cứ vào tình hình biến động của hoạt động xử lý nợ xấu tại BIDV Cầu Giấy trong thời gian gần đây, tác giả lựa chọn đề tài: “Xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cầu Giấy”.
Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM 1. Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM a) Khái niệm Rủi ro”tín dụng trực tiếp gắn liền với hoạt động cho vay, cũng chính là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng hiện nay. Rủi ro này có thể gây tổn thất về tài chính, về kinh tế mà tác động trực tiếp là làm giảm thu lãi, giảm giá trị thị trường về vốn.
Ngoài ra trong một số trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn tới thua lỗ hoặc thậm chí gây phá sản ngân hàng.” Rủi ro”trong hoạt động cho vay của ngân hàng là những tổn thất có khả năng xảy ra với khoản nợ vay, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo khái niệm cơ bản nhất, rủi ro tín dụng khi thực hiện cho vay chính là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nợ đối với ngân hàng. Mà thực tế chính là việc khách hàng không thực hiện hoàn trả hoặc hoàn trả không trả đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng. Việc hoàn trả này bao gồm cả phần nợ gốc và phần nợ lãi phát sinh trong quá trình vay vốn.
Từ việc hoàn trả không đầy đủ và đúng hạn sẽ gây ra nhiều tổn thất trong hoạt động kinh doanh cho ngân hàng.giay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giay Có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng: Theo Timothy W. Koch (1995): “Rủi ro tín dụng là sự rủi ro tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn tín dụng xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.” Theo quan điểm của A.Langge (2005) đưa ra: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian”. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”. Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ khách hàng cho ngân hàng.
Thông thường để đo lường rủi ro tín dụng sử dụng 02 cách bao gồm: khả năng vỡ nợ của khách hàng trong quá trình vay vốn và số tiền mà ngân hàng mất đi khi vỡ nợ xảy ra. Vỡ nợ thường xuyên xảy ra bởi vì sự mất mát trong thu nhập và kinh doanh thất bại của khách hàng. Nhưng nhiều khi đối tác cũng cố ý không trả nợ khi họ vẫn có có thu nhập đầy đủ. Rủi ro tín dụng cũng có thể bắt nguồn từ sự suy giảm giá trị tài sản, sự suy thoái trong danh mục đầu tư hoặc chất lượng tín dụng cá nhân bị suy giảm.
Tại Việt Nam theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho rằng: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Đứng trên”nhiều góc độ khác nhau để nhận thấy thì rủi ro tín dụng với hoạt động cho vay khách hàng có thể được diễn đạt dưới các hình thái khác nhau, song các khái niệm, các quan điểm đều dựa trên bản chất của rủi ro tín dụng đó là: Rủi ro 8 (LUAN.giay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.