CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VẬT LÍ CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG 1. Khái niệm năng lực Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất có sẵn và trong quá trình học tập, rèn luyện của con người cho phép con người huy động kết hợp linh hoạt các kiến thức, kỹ năng để thực hiện các yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh cụ thể. Năng lực chung và năng lực đặc thù của học sinh THPT Trong chương trình giáo dục tổng thể gồm 10 năng lực của học sinh như sau: 10 năng lực này được chia ra thành 2 nhóm năng lực chính là năng lực chung và năng lực đặc thù. - 3 năng lực chung là: Tự chủ và tự học; Kỹ năng giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Nhưng năng lực chung sẽ được nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông. - 7 năng lực đặc thù hay còn gọi là năng lực chuyên môn: Ngôn ngữ; Tính toán; Tin học; Thể chất; Thẩm mỹ; Công nghệ; Tìm hiểu tự nhiên và xã hội.
Năng lực chuyên môn là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động. Đây cũng được xem như một năng khiếu, giúp các em mở rộng và phát huy bản thân mình nhiều hơn. Các năng lực chuyên môn được rèn luyện và phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Các biểu hiện của năng lực vật lí có mối quan hệ qua lại với nhau và có những biểu hiện này là hệ quả của các biểu hiện khác.
Để thuận tiện cho việc phát triển năng lực và đánh giá quá trình, cũng giống như năng lực tự học và năng lực hợp tác, có thể xác lập cấu trúc của năng lực vật lí bằng việc phân chia năng lực thành chuỗi các trình tự hành động gắn bó chặt chẽ với nhau. Các hành động là thực hiện các quan sát, tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên. Khi người học thực hiện các hành động này đồng thời đảm bảo việc có được các biểu hiện của năng lực vật lí đã đề cập trong Chương trình môn học. Theo CTGDPT 2018, môn Vật lí trong chương trình giáo dục trung học phổ thông mới có cấu trúc và các biểu hiện hành vi của năng lực Vật lí sau Năng lực Chỉ số hành vi thành phần 6 N1: Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình Vật lí.
N2: Trình bày được các hiện tượng, quá trình Vật lí, đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình Vật lí bằng các hình thức biểu đạt, nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ. N3: Tìm được từ khóa, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các Nhận thức văn bản khoa học. kiến thức Vật N4: So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá lí trình Vật lí theo các tiêu chí khác nhau. N5: Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình.
N6: Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận. N7: Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân. T1: Đề xuất vấn đề liên quan đến Vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất. T2: Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nếu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu.
T3: Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, Tìm tòi và điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm khám phá thế hiểu. giới tự nhiên T4: Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng dưới góc độ quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, Vật lí xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích; rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết. T5: Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải thích, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục. 7 T6: Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp.
V1: Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn. V2: Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn. Vận dụng V3: Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện kiến thức Vật được một số phương pháp hay biện pháp mới. lí vào thực V4: Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ tiễn thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững.
Phương pháp, kỹ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 1. Định nghĩa trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm là một loại công cụ đo lường, nhằm để xác định cụ thể mức độ, khả năng đạt được mục tiêu học tập của học sinh. Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan, gọi là “khách quan” vì cách chấm điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm. Phương pháp xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 1.
Phương pháp xây dựng câu dẫn Khi xây dựng câu dẫn cần diễn đạt rõ nội dung, nhiệm vụ học sinh cần phải thực hiện. Câu dẫn cần đưa ra đầy đủ thông tin cần thiết để học sinh hiểu được yêu cầu của câu hỏi. Câu dẫn có thể là một câu hỏi hay một câu nhận định còn bỏ lửng. Câu dẫn cũng có thể viết dưới dạng đưa ra nhiều yếu tố rồi tổ hợp thành phương án chọn Câu dẫn phải tránh những từ có tính chất gợi ý hoặc tạo đầu mối dẫn đến câu trả lời như: “Những câu nào sau đây.” trong khi đó câu trả lời là tổ hợp của các phương án chọn.
Nên ít dùng hoặc tránh dùng dạng phủ định trong câu hỏi. Nội dung câu dẫn cần nằm trong nội dung cần phải xác định được các kiến thức trọng tâm. Phương pháp xây dựng phương án chọn Đây là các phương án nhằm trả lời yêu cầu của câu dẫn. Thông thường có 4-5 phương án chọn đối với câu hỏi sử dụng trong kiểm tra đánh giá.
Đối với sử dụng trong dạy học kiến thức mới có thể nhiều phương án chọn hơn phụ thuộc vào các thực tế tình huống mà HS có thể mắc phải và tuỳ thuộc và thời lượng lên lớp ở mỗi tiết học. Trong 8 đó có một câu trả lời đúng hoặc đúng nhất. Các phương án chọn còn lại là các phương án gây nhiễu chỉ đúng một phần hoặc chưa hoàn chỉnh. Các phương án chọn đúng phải phù hợp với câu dẫn về mặt ngữ pháp.
Nghĩa là khi gắn với nhau phải tạo thành một cấu trúc hoàn chỉnh. Các phương án chọn phải có cấu trúc tương tự nhau để tăng độ phân biệt của câu hỏi. Độ dài của các phương án chọn phải tương đương nhau. Phải đảm bảo có một câu đúng duy nhất và được đặt ở những vị trí khác nhau nhằm tránh sự đoán mò của HS.
Hạn chế soạn những câu có nội dung và cách diễn đạt giống như sách giáo khoa vì chúng ít có tác dụng kích thích tư duy sáng tạo. Các giai đoạn soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan Giai đoạn 1: Xác định mục đích của bài trắc nghiệm khách quan Bước 1: Phân tích nội dung môn học Các giáo viên xác định nội dung chi tiết các kiến thức và kỹ năng cần thiết, quan trọng của môn học mà HS phải đạt được. Tùy theo thời điểm khảo sát trong năm học, nội dung kiến thức có thể chỉ trong một vài chương hoặc cho một học kỳ hoặc toàn năm học. Phân tích nội dung môn học để xác định những nội dung cần được đưa vào kiểm tra, đánh giá là công việc không dễ dàng, vì các nội dung dạy học của một môn học thì rất nhiều, GV phải cân nhắc, chọn lọc kỹ.
Kết quả công việc trên là một bảng liệt kê những trọng tâm kiến thức cần đo lường. Ta cũng đã biết giữa nội dung giảng dạy và nội dung kiểm tra, đánh giá có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng không nhất thiết tất cả các nội dung của môn học phải được đưa vào kiểm tra. Bước 2: Xác định mục tiêu nhận thức (yêu cầu cần đạt) cho từng môn học Mục tiêu của môn học là những gì người học hoàn thành được sau khi học xong môn học về kiến thức, kỹ năng, thái độ.
Những mục tiêu này được xác định dưới dạng những kiến thức, kỹ năng và thái độ, có thể xác định được, quan sát được, chỉ rõ những hành vi mà người học phải thực hiện để chứng tỏ mục tiêu học tập đã hoàn thành.