Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xây dựng tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước; - Chương 2: Thực trạng xây dựng tổ chức Đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Định; - Chương 3: Phương huớng, giải pháp xây dựng tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nuớc trên địa bàn tỉnh Bình Định 10 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC ĐẢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI KHU VỰC NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nƣớc 1. Doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước - Doanh nghiệp: Trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất.
Trên phương diện lý thuyết có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp, vì suy cho cùng tiếp cận doanh nghiệp ở góc độ nào thì sẽ có khái niệm doanh nghiệp ở góc độ đó. Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra khái niệm về doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [42; tr. Khái niệm doanh nghiệp theo đó được hiểu theo nghĩa khá rộng rãi, đầy đủ và chặt chẽ. - Doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Trong các tác phẩm kinh điển của C.
Lênin, khái niệm doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước chưa được đề cập một cách rõ ràng, cụ thể. Tuy nhiên, Mác, Ăngghen, Lênin đã có nhiều tác phẩm phân tích sâu sắc về hình thức “đa chủ sở hữu” trong doanh nghiệp, tức là dạng doanh nghiệp cổ phần - một trong những loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong 11 đó có các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước.Ăngghen, doanh nghiệp đa chủ sở hữu bao gồm nhiều loại, có loại cổ đông là tư nhân, những nhà tư bản, nhưng đều thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Trong một số tác phẩm của mình, Ph.Ăngghen đã gọi các doanh nghiệp đa sở hữu đó là “công ty cổ phần của nhà tư bản tập thể” hoặc “công ty cổ phần trực tiếp mang hình thức tư bản xã hội, đối lập với tư bản tư nhân” [56; tr. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Tư tưởng về phát triển kinh tế nhiều thành phần của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện rất sớm, ngay trong bài viết “Toàn dân kháng chiến” năm 1946, Người kêu gọi các nhà giàu có mau mau góp vốn lại để mở các công ty kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giao thông, tích cực tăng gia sản xuất, lưu thông buôn bán và chính phủ mới sẽ bảo đảm không tịch thu một cách vô điều kiện các cơ sở kinh tế tư nhân.
Trong sách “Thường thức chính trị” gồm 50 bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký bút danh Đ.X đăng trên nhiều số báo Cứu quốc năm 1953, Người đã chỉ ra ở nước ta thời điểm đó đang tồn tại sáu thành phần kinh tế: kinh tế địa chủ phong kiến; kinh tế quốc doanh; kinh tế hợp tác xã; kinh tế cá thể; kinh tế tư bản của tư nhân và kinh tế tư bản quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Kinh tế tư bản tư nhân, họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần xây dựng kinh tế” còn “kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh, và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của Nhà nước là CNXH” [39; tr.
Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I, ngày 18/12/1959, trong “Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi” do Người trình bày đã xác định rõ, hiện nay trong nước ta có bốn hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất, đó là: Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân; Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; Sở hữu của người lao động riêng lẻ; Sở hữu của nhà tư bản. Với các thành phần kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh và đối với tư sản dân tộc, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần nữa khẳng định chủ trương nhất quán về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, trong đó có các DNNKVNN. Đối với 12 các thành phần kinh tế ngoài khu vực nhà nước thì dùng phương pháp hoà bình cải tạo mà không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì ngoài thành phần kinh tế nhà nước ra, các thành phần kinh tế khác tồn tại trên đất nước ta là thành phần kinh tế ngoài nhà nước.
Quan niệm của Đảng và Nhà nước ta về doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước: Trước đây trong các văn kiện Đảng và các văn bản của Nhà nước thường dùng các khái niệm “kinh tế quốc doanh” và “kinh tế ngoài quốc doanh”, “doanh nghiệp quốc doanh” và “doanh nghiệp ngoài quốc doanh” để phân biệt thành phần kinh tế hay doanh nghiệp đó thuộc sở hữu của Nhà nước hay không thuộc sở hữu của Nhà nước. Tiêu chí để phân biệt chủ yếu là vốn để xây dựng và hoạt động của các thành phần kinh tế đó là của Nhà nước hay của tư nhân. Trong công cuộc đổi mới, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất đa dạng, các doanh nghiệp quốc doanh cũng biến đổi về sở hữu về tỷ lệ vốn,… đồng thời lại xuất hiện nhiều doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư của nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh giữa tư nhân trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh giữa Nhà nước với nước ngoài… Từ đó, khái niệm DNNKVNN cũng ra đời thay cho khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh. tại Đại hội XIII, Đảng đã khẳng định trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta, thì: “Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao.
Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động…”. Đây là một chủ trương hoàn toàn đúng, một cách tư duy không những phù hợp với thực tế của đất nước, mà còn là động lực để Việt Nam hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Bởi lẽ, muốn phát triển kinh tế thị trường, cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, thì trước hết cần phải xem trọng kinh tế tư nhân, nói đúng 13 hơn là doanh nghiệp tư nhân. Thực tế ở Việt Nam từ nhiều thập niên trước đây cho thấy, kinh tế gia đình, cá thể tuy quan trọng nhưng chỉ có vai trò là giải quyết việc làm, ổn định đời sống, còn nền kinh tế muốn phát triển bứt phá vươn lên thì phải dựa vào DN tư nhân.
Hơn nữa, hiện Việt Nam đã ký 12 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong khi đó, DN tư nhân mới chỉ chiếm 10% GDP thì không cạnh tranh được với thế giới. Điều này cho thấy, Đảng ta đã nhận thấy rõ trong phát triển kinh tế, sự phát triển của các tập đoàn kinh tế khu vực ngoài nhà nước là một xu thế tất yếu, là một kênh quan trọng giúp Nhà nước thực thi nhiệm vụ kinh tế đã đề ra. Cùng với đó, trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Quốc hội nước ta cũng đã cụ thể hóa thông qua một số luật như: Luật Doanh nghiệp (tháng 6- 1999), Luật này thay thế cho Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật sửa đổi một số điều của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm (tháng 6-2000); Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003; Luật Doanh nghiệp (tháng 11- 2005) thay thế Luật doanh nghiệp năm 1999; Luật doanh nghiệp năm 2014. Các luật nêu trên của Nhà nước ta là việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với các DNNKVNN nói riêng.
Đồng thời, đây là những văn bản hết sức quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động được thuận lợi trong quá trình SX,KD. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào định nghĩa cụ thể về khái niệm DNNKVNN. Do đó, để đi sâu nghiên cứu đề tài này, trước tiên chúng ta cần phải làm rõ khái niệm và phân loại được các loại hình doanh nghiệp theo quy định hiện hành. Xét về hình thức pháp lý, Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 quy định có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh.
Trong đó: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2013 ghi rõ: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn 14 điều lệ” [48; tr. Luật Doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” [42; tr. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp [42; tr.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là một loại hình doanh nghiệp, ở Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn gồm có hai dạng: Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên [42; tr.