Tổng quan về luận án
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại sâu rộng, sự cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ diễn ra ở cấp độ vĩ mô mà đã chuyển dịch mạnh mẽ xuống cấp độ địa phương. Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BRVT), với vị thế là cửa ngõ hướng biển của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và vùng Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, đóng vai trò đầu tàu kinh tế, công nghiệp nặng, cảng biển nước sâu và du lịch của Việt Nam. Tuy nhiên, trước bối cảnh suy giảm trữ lượng dầu khí khai thác, biến động kinh tế toàn cầu và sự cạnh tranh gay gắt từ các khu kinh tế ven biển như Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, yêu cầu cấp thiết đặt ra cho tỉnh là phải thiết lập một chiến lược định vị bản sắc và xây dựng thương hiệu địa phương (Place Branding) bài bản nhằm thu hút có chọn lọc các dòng vốn đầu tư quốc tế, nhân tài và khách du lịch chất lượng cao.
Luận án Tiến sĩ "Xây dựng thương hiệu tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Nguyễn Thành Trung (2022), thực hiện tại Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Nguyên Minh và PGS. Nguyễn Xuân Quang, là công trình nghiên cứu tiên phong giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn về quản trị thương hiệu lãnh thổ cấp tỉnh tại Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) cốt lõi được xác định xuất phát từ sự thiếu vắng một khung lý thuyết tích hợp và các công cụ đo lường đa chiều về thương hiệu địa phương trong điều kiện thể chế kinh tế chuyển đổi. Mặc dù Tỉnh ủy BRVT đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 28/7/2017 về phát triển cảng biển và dịch vụ hậu cần cảng, Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27/12/2017 về phát triển du lịch chất lượng cao, và Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 16/10/2018 về truyền thông địa phương, các báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020 và phương hướng 2021-2025 của tỉnh hoàn toàn thiếu vắng nội dung đánh giá thực trạng cấu thành thương hiệu. Công tác quảng bá hiện tại vẫn mang tính phân mảnh, thiếu liên kết đa ngành giữa xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và du lịch, chưa huy động được nguồn lực đồng sáng tạo giá trị từ cộng đồng cư dân và doanh nghiệp.
Để giải quyết khoảng trống học thuật và thực tiễn trên, hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được thiết lập chặt chẽ:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở lý luận về cấu phần, cơ chế vận hành và các nhân tố chi phối quá trình xây dựng thương hiệu địa phương trong bối cảnh hội nhập quốc tế là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng các trụ cột cấu thành thương hiệu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang được định vị và tiếp nhận như thế nào dưới góc nhìn của các bên liên quan nội bộ?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Mô hình và hệ thống giải pháp chiến lược nào có tính khả thi cao nhằm định vị và nâng cao năng lực cạnh tranh thương hiệu tỉnh BRVT đến năm 2025?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu bao gồm:
- Giả thuyết H1: Thể chế địa phương là trụ cột tĩnh giữ vai trò quyết định, chi phối trực tiếp đến hiệu lực thu hút và giữ chân các dòng chảy nguồn lực động.
- Giả thuyết H2: Sự thiếu đồng bộ giữa định vị "Đô thị cảng - logistics" và "Đô thị du lịch nghỉ dưỡng cao cấp" tạo ra xung đột hình ảnh bản sắc trong nhận thức của các nhóm công chúng mục tiêu.
- Giả thuyết H3: Hiệu quả của các chương trình truyền thông thương hiệu địa phương tỷ lệ thuận với mức độ tham gia và mức độ thỏa mãn của cộng đồng cư dân sở tại.
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa Lý thuyết tiếp cận dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV), Lý thuyết hệ thống mở (Open Systems Theory) và Lý thuyết tiếp thị địa phương hiện đại (Kotler et al., 2001; Simon Anholt, 2007). Đóng góp đột phá của công trình được định lượng thông qua việc giải thích thực trạng tăng trưởng kinh tế địa phương: giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng trưởng GRDP (không tính dầu thô và khí đốt) của BRVT đạt bình quân 6,1%/năm (chưa đạt chỉ tiêu Nghị quyết 7%/năm); GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 6.903 USD (tăng 1,3 lần so với 2015); cơ cấu kinh tế chuyển dịch với công nghiệp - xây dựng chiếm 58,66%, dịch vụ chiếm 29,36%, nông nghiệp chiếm 11,98%.
Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu kinh tế - xã hội thứ cấp giai đoạn 2010-2020, kết hợp điều tra xã hội học sơ cấp trên mẫu $N = 124$ cư dân địa phương vào năm 2020, cung cấp căn cứ thực nghiệm vững chắc để xây dựng lộ trình thương hiệu hướng tới mục tiêu tỷ lệ đô thị hóa 63,5% và tăng trưởng GRDP 7,6%/năm giai đoạn 2020-2025.
Literature Review và Positioning
Lịch sử nghiên cứu về tiếp thị và thương hiệu địa phương trải qua nhiều giai đoạn tiến hóa, bắt đầu từ sự mở rộng khái niệm marketing của Kotler & Levy (1969), nghiên cứu tiên phong về hình ảnh điểm đến trong du lịch của Hunt (1975), và các luận điểm về quy hoạch đô thị tích hợp marketing của Ashworth & Voogd (1988, 1990). Tổng quan tài liệu học thuật quốc tế cho thấy sự bùng nổ của các công trình phân tích tổng hợp:
Công trình tổng quan toàn diện của Renaud Vuignier (2016) trên 1.172 bài báo xuất bản từ năm 1976 đến 2016 trên 98 tạp chí khoa học đã chỉ ra rằng lĩnh vực này đang tồn tại lỗ hổng lớn về mặt khái niệm, nền tảng lý thuyết bị phân mảnh và thiếu hụt các bằng chứng thực nghiệm kiểm định tác động của tiếp thị địa phương lên tính hấp dẫn thực tế. Tương tự, Lucarelli & Berg (2011) qua phân tích 217 công trình, và Lucarelli & Brorström (2013) qua 292 bài báo áp dụng khung phân tích Burrell & Morgan (1979), đã khẳng định nghiên cứu thương hiệu thành phố chủ yếu bị chi phối bởi cách tiếp cận khách quan hướng sản xuất và hướng tiêu dùng, mang nặng tính tường thuật tình huống đơn lẻ mà thiếu khung phân tích tích hợp. Chan & Marafa (2013) khi phân tích 111 bài luận trên ba tạp chí chuyên ngành hàng đầu (Journal of Brand Management, Place Branding and Public Diplomacy, Journal of Place Management and Development) đã ghi nhận 60% nghiên cứu dùng phương pháp định tính, 29% định lượng và chỉ 11% kết hợp cả hai, qua đó kết luận tài liệu quốc tế vẫn thiếu một phương pháp tiếp cận nghiên cứu thống nhất.
Trong bức tranh học thuật đó, tồn tại hai luồng tranh luận đối lập sâu sắc:
- Tranh luận về bản chất công cụ: Quan điểm truyền thống (Kotler et al., 2001; Skinner, 2008) xem tiếp thị địa phương là công cụ chức năng nhằm "bán" các đặc tính của vùng đất cho du khách và nhà đầu tư; đối lập với quan điểm hiện đại (Kavaratzis & Hatch, 2013; Florek & Kavaratzis, 2014) coi xây dựng thương hiệu là quá trình đối thoại liên tục, đồng kiến tạo bản sắc văn hóa - xã hội và quản trị kỳ vọng dài hạn của các bên liên quan.
- Tranh luận về tính bình đẳng xã hội: Andersson (2014) và Berglund & Olsson (2010) đặt ra nghi vấn phản biện rằng thương hiệu địa phương có nguy cơ trở thành quá trình phi dân chủ, phục vụ lợi ích của giới tinh hoa kinh tế và gạt bỏ tầng lớp yếu thế; trong khi trường phái phát triển đô thị xem đây là công cụ công quyền bắt buộc để tối đa hóa phúc lợi cộng đồng.
Tại Việt Nam, sau khi Chương trình Thương hiệu Quốc gia ("Vietnam Values") được phê duyệt tại Quyết định 253/QĐ-TTg năm 2003, các nghiên cứu bắt đầu phân định thuật ngữ "nhãn hiệu" (trademark) trong luật sở hữu trí tuệ với "thương hiệu" (brand) trong quản trị kinh doanh. Tuy nhiên, các tài liệu trong nước như giáo trình của Vũ Trí Dũng và Nguyễn Đức Hải (2011) chủ yếu phái sinh từ cuốn sách dịch của Philip Kotler (2001) do Trường Chính sách công Fulbright truyền bá, mới dừng lại ở việc mô tả tiếp thị lãnh thổ chung chung, chưa có nghiên cứu hệ thống hóa cấu phần thương hiệu cấp tỉnh.
So sánh với các nghiên cứu trường hợp quốc tế điển hình như chiến dịch "Iamsterdam" của Amsterdam (2003), "OnlyLyon" của Lyon (2007) hay "Be Berlin" của Berlin (2008), luận án đã định vị sự khác biệt bằng cách tiếp cận một tỉnh thuộc nền kinh tế đang phát triển, sở hữu cảng biển trung chuyển quốc tế và công nghiệp dầu khí, nhằm xây dựng mô hình thương hiệu dung hòa giữa các xung lực kinh tế đối nghịch.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án tạo ra bước tiến quan trọng về mặt khái niệm khi tích hợp và mở rộng Lý thuyết tiếp cận dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV của Barney, 1991) và Lý thuyết hệ thống mở của Ludwig von Bertalanffy sang địa hạt quản trị công và tiếp thị lãnh thổ.
KHUNG HỆ THỐNG MỞ (OPEN SYSTEMS)
Luận án khẳng định rằng thương hiệu địa phương không đơn thuần là tập hợp các biểu trưng thị giác (logo, slogan), mà là:
"Sự sắp xếp các yếu tố tĩnh và yếu tố động tại địa phương theo cách thức riêng của địa phương nhằm thực hiện mục tiêu phát triển con người và tăng trưởng kinh tế."
Luận án đề xuất một mệnh đề lý thuyết cốt lõi (Theoretical Proposition): Tính hấp dẫn của thương hiệu địa phương được quy định bởi sự chuyển dịch của các dòng vật chất qua biên giới địa lý (sản phẩm, con người, dòng vốn và tri thức). Trong cấu trúc này, luận án chứng minh về mặt lý luận vai trò tối thượng của thể chế địa phương - xem thể chế là nhân tố quyết định hiệu quả phân bổ và kích hoạt các nguồn lực tự nhiên, văn hóa và cơ sở hạ tầng.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đa lý thuyết nhằm tạo nên Mô hình 8 trụ cột thương hiệu địa phương, phân chia thành hai nhóm cấu xạ rõ rệt:
| Nhóm trụ cột |
Cấu phần cụ thể |
Bản chất vận hành học thuật |
| 4 Trụ cột Tĩnh (Yếu tố nội tại không dịch chuyển qua biên giới) |
1. Thể chế: Thực thi pháp luật, CCHC, thái độ công chức, liêm chính công vụ. 2. Văn hóa: Biểu tượng, di sản, giá trị truyền thống, tri thức bản địa. 3. Cơ sở hạ tầng: Điện, nước, CNTT, giao thông kết nối, hạ tầng cảng biển. 4. Đặc điểm tự nhiên: Vị thế địa kinh tế, tài nguyên khoáng sản, khí hậu. |
Tạo lập nền tảng không gian, môi trường pháp lý và sức chứa vật chất để hấp dẫn các nguồn lực bên ngoài. |
| 4 Trụ cột Động (Dòng vật chất dịch chuyển qua biên giới) |
5. Thương mại: Xuất nhập khẩu, thương mại nội địa, sản phẩm đặc trưng. 6. Du lịch: Du khách quốc tế/nội địa, chất lượng dịch vụ, điểm đến. 7. Đầu tư: FDI, vốn ODA, đầu tư tư nhân, chuyển giao công nghệ. 8. Con người: Đời sống, chính sách nhân dụng, chất lượng nhân lực. |
Phản ánh cường độ tương tác, khả năng sinh lợi và mức độ hấp thu nguồn lực toàn cầu của địa phương. |
Điều kiện biên (Boundary Conditions) của khung phân tích được xác định rõ: Khung mô hình giả định địa phương là một hệ thống mở có ranh giới hành chính không đổi trong dài hạn; chịu sự chi phối chung của khung khổ pháp luật quốc gia; và giả định các đơn vị hành chính cấp huyện/thị thuộc tỉnh chịu tác động đồng nhất từ chiến lược cấp tỉnh.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
THIẾT KẾ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên lập trường triết học thực chứng (Positivism) kết hợp chủ nghĩa hiện thực có phê phán (Critical Realism). Nghiên cứu sử dụng thiết kế hỗn hợp (Mixed Methods Research) đa tầng: Cấp độ vĩ mô phân tích hệ thống thể chế và động thái kinh tế qua dữ liệu thứ cấp; cấp độ vi mô lượng hóa nhận thức của các tác nhân xã hội thông qua dữ liệu điều tra sơ cấp.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thiết kế chặt chẽ nhằm đảm bảo tính giá trị (validity) và độ tin cậy (reliability):
- Chiến lược chọn mẫu: Dữ liệu sơ cấp sử dụng bộ dữ liệu khảo sát của Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh (BCSI, 2018) được triển khai thực địa trong năm 2020 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với quy mô $N = 124$ người dân sở tại.
- Quy trình tam giác hóa (Triangulation):
- Tam giác hóa dữ liệu: Đối chiếu dữ liệu khảo sát nhận thức người dân với số liệu thống kê chính thức từ Cục Thống kê tỉnh BRVT, Báo cáo KTXH của UBND tỉnh và các Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy.
- Tam giác hóa lý thuyết: Sử dụng đồng thời mô hình lục giác thương hiệu Simon Anholt và lý thuyết marketing địa phương Kotler để giải thích các biến số thực nghiệm.
- Kiểm soát chất lượng dữ liệu: Dữ liệu khảo sát được làm sạch, mã hóa thang đo Likert và xử lý thống kê mô tả nhằm loại bỏ các sai lệch hệ thống.
Data và phân tích
Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát ($N = 124$) được thống kê chi tiết:
- Giới tính: Nữ giới chiếm 64,5%, Nam giới chiếm 35,5%.
- Độ tuổi: Nhóm tuổi 25–34 tuổi chiếm đa số với 51,6%; nhóm 35–44 tuổi chiếm 16,1%; nhóm 45–54 tuổi chiếm 19,4%; nhóm dưới 24 tuổi chiếm 6,5% và trên 55 tuổi chiếm 6,4%.
- Học vấn & Nghề nghiệp: 87,0% đối tượng có trình độ Đại học trở lên; trong đó cán bộ công nhân viên chức chiếm 47,0%, lao động tại doanh nghiệp chiếm 31,0%.
- Quy mô & Thu nhập: Quy mô hộ gia đình trung bình là 4 người; mức thu nhập bình quân của toàn bộ thành viên hộ gia đình phổ biến ở mức dưới 15 triệu đồng/tháng.
Dữ liệu thứ cấp ghi nhận các chỉ số kinh tế giai đoạn 2016-2020: Trong 16 chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh, có 9 chỉ tiêu đạt và vượt, nhưng có tới 7 chỉ tiêu không đạt mục tiêu Nghị quyết Đảng bộ tỉnh đề ra. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng trưởng 9,29%/năm. Năm 2021, UBND tỉnh lần đầu tiên phê duyệt ngân sách chuyên biệt 15 tỷ VNĐ theo Kế hoạch số 72/KH-UBND để thực thi Đề án truyền thông giai đoạn 2019-2025.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Phân tích thực nghiệm mang lại 5 phát hiện then chốt về thương hiệu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:
- Nghịch lý định vị mục tiêu kép: BRVT đối mặt với sự xung đột gay gắt giữa hai định hướng: trở thành "Đô thị cảng nước sâu, logistics và công nghiệp nặng" theo Nghị quyết 08-NQ/TU và "Đô thị du lịch nghỉ dưỡng chất lượng cao" theo Nghị quyết 09-NQ/TU. Hai định vị này triệt tiêu lẫn nhau về mặt nhận diện cảm xúc nếu không được quy hoạch không gian tách biệt.
- Điểm nghẽn thể chế và chi phí không chính thức: Dù các chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX, PAPI, PCI) có chuyển biến tích cực thông qua Kế hoạch "Chính quyền thân thiện, vì nhân dân phục vụ" (Quyết định 1978/QĐ-UBND năm 2021), kết quả điều tra cho thấy người dân và doanh nghiệp vẫn ghi nhận sự tồn tại của các khoản chi không chính thức và sự thiếu chủ động của một bộ phận cán bộ công chức (CBCC).
- Sự kém hiệu quả của mô hình truyền thông một chiều: Gói ngân sách 15 tỷ VNĐ (năm 2021) chi tiêu dàn trải trên 18 cơ quan báo chí truyền thống chủ yếu phục vụ việc đưa tin hành chính một chiều, thiếu tính tương tác đa chiều, không phân đoạn khách hàng mục tiêu và chưa có hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả chuyển đổi (ROI).
- Mâu thuẫn giữa chất lượng lao động và chính sách nhân dụng: Mặc dù 87% mẫu khảo sát có trình độ đại học, mức độ thỏa mãn với chính sách nhân dụng của chính quyền và doanh nghiệp còn thấp. Thu nhập bình quân hộ gia đình dưới 15 triệu đồng/tháng là rào cản lớn trong việc thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Thiếu vắng các thiết chế biểu tượng và sự kiện tầm cỡ: BRVT chưa xây dựng được các festival văn hóa - du lịch quốc tế thường niên làm điểm nhấn, thiếu các sản phẩm xuất khẩu mang chỉ dẫn địa lý độc quyền để định danh thương hiệu trên thị trường toàn cầu.
Implications đa chiều
- Hàm ý lý thuyết: Khẳng định tính tương thích của mô hình 8 trụ cột trong việc phân tích các thực thể kinh tế cấp tỉnh tại các quốc gia đang phát triển, bổ sung luận cứ về mối quan hệ nhân quả giữa 4 trụ cột tĩnh và 4 trụ cột động.
- Hàm ý quản trị công: Chuyển đổi mô hình quản lý từ "xúc tiến phân tán" (do Sở Kế hoạch & Đầu tư và Sở Công Thương thực hiện riêng rẽ) sang "Ủy ban Quản trị Thương hiệu Tỉnh" tích hợp, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lãnh đạo UBND tỉnh.
- Hàm ý chính sách:
- Tái cấu trúc ngân sách truyền thông: Chuyển từ chi tiêu dàn trải trên báo in sang tiếp thị số (Digital Place Marketing), tiếp thị nội dung trải nghiệm và truyền thông dữ liệu.
- Giải quyết xung đột không gian: Phân vùng địa lý nghiêm ngặt giữa dải công nghiệp - cảng biển (Phú Mỹ, Cái Mép) và dải đô thị du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng cao cấp (Vũng Tàu, Long Hải, Xuyên Mộc, Côn Đảo).
Limitations và Future Research
Luận án thừa nhận một số giới hạn học thuật khách quan:
- Giới hạn mẫu sơ cấp: Mẫu điều tra định lượng $N = 124$ tập trung chủ yếu vào đối tượng cư dân và cán bộ công chức tại địa phương, chưa thể tiến hành điều tra sơ cấp quy mô lớn đối với nhà đầu tư nước ngoài (FDI) và du khách quốc tế do tác động của đại dịch Covid-19 trong giai đoạn 2020-2021.
- Giới hạn phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu dừng lại ở mốc đánh giá nhiệm kỳ 2016-2020 và định hướng đến 2025; chưa mô hình hóa toán học các phiếm hàm mục tiêu dài hạn đến năm 2030, 2050 do thiếu chuỗi dữ liệu chu kỳ dài.
- Giới hạn phân tích nội vùng: Luận án coi tỉnh BRVT là một thực thể đồng nhất, chưa bóc tách sâu sắc sự tương tác và mức độ phân hóa thương hiệu giữa các đơn vị hành chính trực thuộc (như Thành phố Vũng Tàu, Thị xã Phú Mỹ và Huyện Côn Đảo).
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) mở ra 4 hướng tiếp cận:
- Ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) để lượng hóa trọng số tác động của từng trụ cột tĩnh lên từng trụ cột động với mẫu $N > 500$.
- Nghiên cứu so sánh liên tỉnh (Comparative cross-provincial analysis) giữa các cực tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ (TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, BRVT).
- Đo lường tài sản thương hiệu địa phương (Place Brand Equity) dưới góc nhìn của các nhà đầu tư đa quốc gia.
- Nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và chuyển đổi xanh (ESG) đến định vị thương hiệu đô thị cảng thông minh.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật: Công trình là tài liệu tham khảo nền tảng cho các viện nghiên cứu kinh tế, cơ sở đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị kinh doanh và Thương mại quốc tế.
- Tác động chuyển đổi kinh tế ngành: Cung cấp luận cứ khoa học cho ngành công thương và du lịch tỉnh BRVT tái cấu trúc sản phẩm, chuyển dịch từ phụ thuộc khai khoáng dầu khí sang kinh tế biển xanh và dịch vụ logistics cảng nước sâu giá trị gia tăng cao.
- Tác động chính sách cấp tỉnh: Cung cấp khung đánh giá thực chứng giúp HĐND và UBND tỉnh BRVT giám sát hiệu quả thực thi Quyết định số 1978/QĐ-UBND và Đề án truyền thông tỉnh giai đoạn 2021-2025.
- Tầm vóc quốc tế: Định vị tỉnh BRVT trên bản đồ hàng hải thế giới, kết nối Hành lang kinh tế Đông - Tây và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (EVFTA, CPTPP, RCEP).
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận khung phân tích hệ thống 8 trụ cột và hệ thống tài liệu tổng quan 1.172 bài báo quốc tế để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế không gian.
- Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh BRVT: Sở hữu công cụ quản trị chiến lược để điều phối nguồn lực, giải quyết mâu thuẫn giữa quy hoạch công nghiệp nặng và phát triển du lịch sinh thái.
- Sở Công Thương, Sở Du lịch, Sở Kế hoạch & Đầu tư: Cơ sở thiết kế các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư FDI và quảng bá điểm đến đồng bộ, tránh lãng phí ngân sách công.
- Cộng đồng Doanh nghiệp trên địa bàn: Hưởng lợi từ môi trường thể chế minh bạch, giảm thiểu chi phí không chính thức, gia tăng giá trị vô hình cho sản phẩm địa phương.
- Cư dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi y tế, giáo dục và cơ hội việc làm thu nhập cao từ các ngành công nghiệp sạch và dịch vụ cảng biển.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết tiếp cận dựa trên nguồn lực (RBV) và Lý thuyết hệ thống mở bằng việc phân định ranh giới giữa 4 trụ cột tĩnh nội tại (Thể chế, Văn hóa, Hạ tầng, Tự nhiên) và 4 trụ cột động dịch chuyển qua biên giới (Thương mại, Du lịch, Đầu tư, Con người). Đóng góp mang tính đột phá là xác lập luận điểm: "Thể chế địa phương là biến số tĩnh quan trọng nhất, đóng vai trò công tắc kích hoạt và điều phối toàn bộ các dòng chảy nguồn lực động của địa phương."
2. Điểm mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
So với các nghiên cứu quốc tế thuần túy định tính (như 60% bài báo được Chan & Marafa rà soát) hoặc các nghiên cứu tư vấn xếp hạng mang tính thương mại của Simon Anholt, luận án áp dụng quy trình tam giác hóa dữ liệu nghiêm ngặt: kết hợp khảo sát vi mô nhận thức cư dân sở tại ($N = 124$) với phân tích chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô 10 năm (2010-2020) và đánh giá thể chế thực thi chính sách công tại một tỉnh kinh tế trọng điểm.
3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất?
Phát hiện về sự đứt gãy giữa thành tựu kinh tế vĩ mô và trải nghiệm vi mô: Mặc dù BRVT có mức GRDP bình quân đầu người hàng đầu cả nước (6.903 USD năm 2020 không tính dầu khí), nhận thức của người dân có trình độ đại học (chiếm 87% mẫu) về mức độ hài lòng đối với chính sách nhân dụng, thu nhập thực tế hộ gia đình (< 15 triệu VNĐ/tháng) và chất lượng dịch vụ công vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản (Replication Protocol) không?
Có. Quy trình 8 bước xây dựng thương hiệu địa phương và bộ tiêu chí đánh giá 8 trụ cột tĩnh - động được lượng hóa chi tiết, cho phép các tỉnh/thành phố ven biển khác tại Việt Nam (như Hải Phòng, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kiên Giang) có thể áp dụng trực tiếp để rà soát và hoạch định chiến lược thương hiệu địa phương.
5. Định hướng nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao?
Luận án vạch ra lộ trình nghiên cứu đến năm 2030:
- Xây dựng mô hình toán lượng kinh tế lượng hóa độ co giãn giữa vốn đầu tư cho thương hiệu và tốc độ tăng trưởng GRDP.
- Thiết lập hệ thống đo lường tài sản thương hiệu địa phương theo thời gian thực dựa trên dữ liệu lớn (Big Data) và phân tích cảm xúc mạng xã hội.
- Nghiên cứu cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong quản trị thương hiệu điểm đến.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thành Trung đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 6 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tiếp thị và thương hiệu địa phương trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Xây dựng thành công Mô hình 8 trụ cột thương hiệu địa phương (4 tĩnh, 4 động), tạo bước tiến mới về mặt lý thuyết quản trị thương hiệu lãnh thổ.
- Khẳng định vai trò quyết định của trụ cột thể chế địa phương trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút nguồn lực toàn cầu.
- Đánh giá toàn diện thực trạng thương hiệu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2010-2020 qua lăng kính dữ liệu đa chiều, chỉ rõ 5 phát hiện thực nghiệm đột phá.
- Giải quyết mâu thuẫn chiến lược giữa phát triển đô thị cảng công nghiệp và đô thị du lịch sinh thái nghỉ dưỡng thông qua quy hoạch không gian thương hiệu tích hợp.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và quy trình tổ chức thực thi chiến lược thương hiệu tỉnh BRVT đến năm 2025 có tính khả thi và hàm lượng khoa học cao.
Công trình không chỉ tạo ra bước nhảy vọt về hệ hình tư duy quản trị địa phương tại Việt Nam mà còn mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành bền vững, đặt nền tảng học thuật vững chắc cho việc định vị các đô thị biển Việt Nam vươn tầm quốc tế.