CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG. o2-5- 5c 5° s52 se se s£seEseSseEeeereesezsesrs 7 1. Lịch sử hình thành và phát triỂn. Cơ cầu tô chức quản lý.- - cc T212 151121121211 11 11111 HH ng tru 9 1.
Mối quan hệ của doanh nghiệp đổi với cơ quan quản lý Nhà nước. Hình thức tô chức bộ máy quản lý doanh nghiệp. Thị trường khách hàng và đối thủ kinh doamh. Thị trường khách hàng.
Đồi thủ cạnh tranh.- tt H1 H2 t1 HH1 1 11 2n n1 1n 1t n He ru 13 1. Cơ sở vật chất của công ty lữ hành Hà Nội. Khu vực tuyến du lịch chủ yếu của công ty qua các năm.---s-csccssxc: 14 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CỦA CÔNG TY HANOITOURIST. Nghiên cứu thị trường.
Xây dựng tầm nhìn thương hiệu. Hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu. Định vị thương hiỆU. (L1 12121151111 1111111111111 111111111111 1111111 11 HH he hy 26 2.
Hệ thông nhận diện thương hiệu. Truyền thông quảng bá thương hiệu.--- S1 SE E121 XE Heie 32 2. Đo lường và hiệu chỉnh kế hoạch truyền thông.-- 2 St 2E EzErrkerxe 34 CHƯƠNG 3: CÁC CHÍNH SÁCH MARKETING VÀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU. Chiến lược marketing trực tiếp " 38 3.
Chiến lược truyén thong tich hop. Chiến lược truyền thông trên nền tảng sỐ.- 5 11T E218 1 me 40 CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP DỰA TRÊN CÁC CÔNG CỤ. Ma trận SWOT của công ty HanoIfOUTISÍ. Căn cứ đề xuất một số các giải pháp phát triển xây dựng thương hiệu công ty lữ hành HanoIfOUTISE.-- 2200221111211 1211111211 110211 1101111 111k k ng 51k k KHE 11kg 45 4.1 Căn cử vào định hướng chung.2 Căn cứ vào định hướng phát triển thương hiệu của công ty.
Đề xuất một số giải pháp phát triển thương hiệu.1 Giải pháp về định vị thương hiệu.2 Giải pháp Marketing sản phẩm bằng công nghệ Marketing online. Giải pháp về sản phâm.4 Giải pháp về chiêu thị. Giải pháp về phát triển bên vững.- 5 sc n t EE E111 yeu 49 4.6 Giải pháp về đầu tư.7 Giải pháp về hội nhập.8 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực. Giải pháp quản lý hình ảnh thương hiệu thống nhất tại mọi thời điểm.
53 TAL LIEU THAM KHAO .cs cs s ses s s s cs sces ceas eac sa neas cesaesacs 54 7i0nnni 17. 55 LOI MO DAU Du lich được coi la ngành “công nghiệp không khói”, là “con gà đẻ trứng vàng” của nên kinh tế. Ngành du lịch luôn chiếm vị trí rất quan trọng ở bất cứ quốc gia nào. Và Việt Nam là đất nước có tiềm năng lớn về du lịch, ngoài những di sản thế giới như: Vịnh Hạ Long, Có đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha — Kẻ Bàng, Tràng An, thành nhà Hồ, Hoàng Thành Thăng Long., Việt Nam còn thu hút khách du lịch nước ngoài với hàng loạt địa điểm du lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền Tô quốc.
Đó là các hệ sinh thái biển (Phú Quốc — Kiên Giang, Nha Trang — Khánh Hòa, Mũi Né — Bình Thuận, Đà Nẵng. ), hệ sinh thái sông hồ (Khoang Xanh Suối Tiên, Ao Vua. ), hệ sinh thái rừng (vườn quốc gia Ba Bề, Bái Tử Long, Ba Vì, Cat Ba.) hay hệ sinh thái hang động (Tam Cốc Bích Động, Tràng An. Những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý kinh tế và chính trị của Việt Nam cũng là yếu tố thuận lợi để phát triển du lịch.
Nằm ở trung tâm Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa vừa thông ra đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và hàng không. Đây là tiền đề rất quan trọng trong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế. Và cùng với đó trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển cùng với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thê giới đã đem lại cho các doanh nghiệp du lịch trong nước rất nhiều cơ hội phát triển. Nhưng bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng gặp phải không ít những khó khăn, thách thức cần phải vượt qua.
Và một trong những yếu tố có thể nâng cao sức mạnh cạnh tranh cho các doanh nghiệp đó chính là thương hiệu. Thương hiệu dẫn dắt chiến lược tô chức, là chất xúc tác quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu kinh doanh và là điểm trọng tâm kết nỗi mọi nguồn lực hay khía cạnh quản trị tổ chức, nhân viên, đối tác & khách hàng. Tạo dựng một thương hiệu là cả một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực phần đầu không ngừng và sự đầu tư thích đáng của doanh nghiệp. Một thương hiệu mạnh sẽ mang lại các cơ hội kinh doanh và sức mạnh đòn bẩy cho các hoạt động khác, được xem như vũ khí cơ bản trong cạnh tranh.
Và một trong số những doanh nghiệp du lịch đã và đang là một doanh nghiệp có uy tín và thương hiệu mạnh tại Việt Nam đó chính là Công ty Lữ hành HanoifourIst. Trong thời đại xã hội phat trién theo xu hướng toàn cầu hoá, công ty không ngừng cải tiễn chất lượng dịch vụ, nâng cấp cơ sở hạ tầng, phát triển nhiều mô hình sản pham mới cũng như tăng cường tuyên truyền - quảng bá - tiếp thị đến khách hàng. Từ đó, vị thể của công ty trên thị trường du lịch và công ty liên tục đối mới, sáng tạo với những hình ảnh, sản phâm vô cùng độc đáo và bắt mắt. Nhưng công tác hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu của Công ty Lữ hành còn nhiều hạn chế cần được cải thiện và nâng cao.
Vì vậy, nhóm 2 lựa chọn đề tài “Hoạch định chiến lược phát triển thương hiệu Công ty Lữ hành Hanoitourist” đề tìm hiểu, phân tích và đóng góp thêm cho doanh nghiệp. CHUONG 1: GIỚI THIỆU CHUNG © _ Tổng quan về doanh nghiệp Hanoitourist — Tên đầy đủ của doanh nghiệp: CÔNG TY LỮ HÀNH HANOITOURIST — Website: https://hanoitourist.vn/ —_ Trụ sở chính của doanh nghiệp: 18 Ly Thuong Kiét, phuong Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiểm, Hà Nội —_ Tổng đài Hanoitourist: 0965934518 Hanottourist là một đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch trực thuộc Tổng công ty du lịch Hà Nội. Tiền thân của công ty lữ hành Hanoitourist được thành lập từ 25/03/1963. Sau khoảng thời gian kinh doanh trên thị trường, ủy ban nhân dân thành phố quyết định thành lập tông công ty du lịch Hà Nội với sự thí điểm theo hình thức: công ty me, công ty con với mục tiêu xây dựng một thương hiệu mạnh về du lịch, hoạt động đa ngành nghè, phù hợp với yêu cau phát triển của thị trường du lịch nói chung cũng như nền kinh tế vĩ mô của thủ đô Hà Nội nói riêng.
Lịch sử hình thành và phát triển Giai đoạn từ năm 1963 đến 1976 Giai đoạn này nước ta trong tình trạng có chiến tranh, kinh tế kém phát triển, ngành du lịch có tiềm năng nhưng chưa được khai thác. Khi mới lập, công ty du lịch Hà Nội chỉ là một đơn vị trực thuộc công ty du lịch Việt Nam, đặt dưới sự quản lý của bộ ngoại thương, cơ sở vật chất ban đầu chỉ có khách sạn Dân Chủ, khách sạn Hoàn Kiếm, cửa hàng Bờ Hồ với cơ sở vật chất rất khiêm tốn. Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty du lịch Hà Nội là phục vụ các đoàn khách quốc tế của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa: Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumania. Khách nội địa chủ yếu là: bộ đội, công nhân, học sinh.
tham dự các hội nghị biểu dương những người có thành tích trong chiến đầu, lao động và học tập. Mục đích chủ yếu là phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ kinh doanh du lịch chỉ là thứ yếu. Giai đoạn từ năm ]976 - 1993 Sau ngày giải phóng Miền Nam, hoạt động kinh doanh du lịch đã có những thay đối khi nền kinh tế chuyên từ quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của chính phủ. Các doanh nghiệp du lịch được thành lập ngày một nhiều và đa dạng trong phương thức hoạt động.
Cùng với sự đối mới của đất nước Công ty du lịch Hà Nội đã có những thay đổi trong hoạt động kinh doanh. Công ty đã có những nhắn mạnh trở nên lớn mạnh công tác tuyên truyền, quảng cáo nhằm thu hút du khách, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, đã đạt được những kết quả rất khả quan. Năm 1993 Công ty đã đón được 87.000 lượt khách, trong đó 44.000 lượt khách quốc tế, 43.000 lượt khách nội địa. Công ty chú trọng đến việc đầu tư, cải tạo cơ sở vật chất, công ty đã nâng cấp cửa hàng Bờ Hồ thành khách sạn Metropole, trên cơ sở cải tạo và nâng cấp khách sạn Thống Nhất thành khách sạn 5 sao, đã đi vào hoạt động từ năm 1990.
Năm 2001, doanh thu của khách sạn đạt 125.900 triệu đồng, nộp cho ngân sach nha nude 13. Cho đến năm 1993, công ty đã là thành viên chính thức của Hiệp hội Du lịch Nhật Bản ( JATA), hiệp hội du lịch Hoa Kì (ASTA), hiệp hội du lịch các nước Châu Á ( PATA), đặt quan hệ với 55 hãng lữ hành tại 20 quốc gia trên thế giới. Giai đoạn từ những năm 1994 đến 2010 Trong thời gian này công ty du lịch Hà Nội đã gặp phải những khó khăn. Ngày cảng nhiều các doanh nghiệp du lịch ra đời.
Năm 1997 cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực Châu Á — Thái Bình Dương, đã ảnh hưởng đến ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Hà Nội nói riêng. Nhưng công ty đã có những giải pháp kinh doanh nhằm khắc phục và đã đạt đơjợc kết quả cao trong giai đoạn 1997 — 2001. Tổng doanh thu năm 1997 là 28,40 tỷ đồng, năm 2000 là 16 tỷ, năm 2001 là 206,7 ty đồng. Năm 1998 công ty du lịch Hà Nội thành lập Trung tâm du lịch Hà Nội chuyên kinh doanh lữ hành.
Năm 2004 UBND thành phô Hà Nội quyết định thành lập Tổng công ty du lịch Hà Nội dựa trên cơ sở của công ty du lịch Hà Nội cũ và sắp xếp l số doanh nghiệp sát nhập vào. Năm 2005 Trung tâm du lịch Hà Nội được chuyên đối thành công ty lữ hành Hanoitourist chuyên kinh doanh lữ hành quốc tế và nội địa, đại lý vé máy bay, vận chuyển du lịch xứng tầm với doanh nghiệp của thủ đô. Trong vòng 40 năm xây dựng và trưởng thành công ty du lịch Hà Nội đã có 14 đơn vị trực thuộc, trong đó có các khách sạn từ 2 sao đến 5 sao, thành lập trung tâm du lịch, trung tâm thương mại, trung tâm xuất khẩu lao động, đoàn xe du lịch.mở 2 chi nhánh của công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh và Móng Cái.