MỞ ĐẦU 1. Đất đai là một loại tài nguyên không do con người làm ra, nhưng con người sử dụng nó như một tài nguyên sản xuất. Với mỗi quốc gia đều có một quỹ đất đai nhất định được giới hạn bởi một diện tích, ranh giới, vị trí. Do vậy, đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quý giá và được chuyển tiếp qua các thế hệ, được pháp luật công nhận là một dạng của cải trong phương thức tích lũy của cải vật chất của xã hội.
Đối với nước ta điều này đã được Luật Đất đai 2013 khẳng định: "Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh". Vì vậy công tác quản lý nhà nước về đất đai cực kì quan trọng. Để phục vụ cho công tác trên thì việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai phải đồng bộ ở tất cả các cấp, từ trung ương đến địa phương. Cơ sở dữ liệu không gian tại nước ta đang từng ngày, từng giờ được bổ sung, chuẩn hóa với kĩ thuật tiên tiến nhất nhưng cùng với đó công tác cập nhật cơ sở dữ liệu thuộc tính đang đình trệ do khối lượng thông tin quá lớn và không đồng nhất.
Phường Quang Trung là một phường thuộc thành phố Thái Nguyên, là phường có mật độ dân cư đông nhất trong thành phố do có nhiều trường đại học và trung học phổ thông đóng trên địa bàn. Dân số của phường là 32.532 người (2011), phường được chia làm 39 tổ dân phố có diện tích là 1. Với những đặc điểm nêu trên nên phường Quang Trung luôn luôn gặp khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Phường Quang Trung chưa có hệ thống bản đồ địa chính chính quy, bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ theo dõi biến động đất đai không đầy đủ, không được cập nhật thường xuyên đồng bộ ở ba cấp.
h 2 Xuất phát từ thực tế đó, dưới sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Ngọc Anh, em tiến hành nghiên cứu đề tài:”Xây dựng cơ sở dữ liệu hồ sơ quét phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn Phường Quang Trung – Thành phố Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài. - Xây dựng hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dạng số phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai. - Đề xuất một số giải pháp phù hợp với tình hình thực tế nhằm hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính Phường Quang Trung.
- Ứng dụng tin học trong việc xây dựng hồ sơ cấp giấy chứng nhận dạng số. Yêu cầu của đề tài - Việc xây dựng,cập nhật,quản lý khai thác và sử dụng dữ liệu địa chính phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, khách quan, thống nhất và thực hiện theo quy định hiện hành về lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữa nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Khái niệm hệ thống hồ sơ địa chính - Hồ sơ địa chính được hiểu là hệ thống các tài liệu,số liệu bản đồ,sổ sách… chứa đựng các thông tin về các mặt tự nhiên,kinh tế-xã hội và pháp lý của đất đai cần thiết cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai. - Hồ sơ địa chính cung cấp những thông tin cần thiết để Nhà nước thực hiện chức năng của mình đối với đất đai với tư cách là chủ sở hữu. - Hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất của mỗi hộ gia đình,cá nhân,tổ chức theo từng đơn vị hành chính cấp xã gồm:Bản đồ địa chính(hoặc bản trích đo địa chính),sổ địa chính,sổ mục kê đất đai,sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Hồ sơ địa chính được thiết lập,cập nhật trong quá trình điều tra qua các thời kì khác nhau,bằng các phương pháp khác nhau:Đo đạc địa chính;đánh giá đất;phân hạng và định giá đất;đăng ký đất đai ban đầu,đăng ký biến động đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Tóm lại hồ sơ địa chính là các tài liệu thành quả của việc đo đạc và đăng ký đất đai,thể hiện đầy đủ các thông tin về từng thửa đất phục vụ cho quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất.Nội dung hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chính mang những nội dung,thông tin về sử dụng và quản lý đất đai; bao gồm ba lớp thông tin cơ bản: - Các thông tin về điều kiện tự nhiên. - Các thông tin kinh tế-xã hội - Các thông tin về cơ ở pháp lý. - Các thông tin này được thể hiện từ tổng quan đến chi tiết cho từng thửa đất trên toàn lãnh thổ. h 4 • Các thông tin về điều kiện tự nhiên của thửa đất Các thông tin này bao gồm:Vị trí, hình dáng, kích thước, tọa độ (quan hệ hình học), diện tích của thửa đất( số lượng).Để xác định các thông tin này người ta sử dụng phương pháp đo đạc thành lập bản đồ, sản phẩm thu được là bản đồ địa chính (được thể hiện trên giấy và dạng số).
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản đầu tiên của hồ sơ địa chính,giúp nhận biết các điều kiện tự nhiên của thửa đất. Để liên hệ thông tin giữa bản đồ địa chính với các lớp thông tin khác trong hệ thống hồ sơ địa chính người ta gán cho mỗi tờ bản đồ một số hiệu(số thứ tự kèm theo tên gọi), mỗi thửa đất có một số hiệu duy nhất(gọi là số thửa). Số thửa có ý nghĩa rất quan trọng, không những nó giúp cho việc thống kê đất đai không bị trùng sót mà còn giúp tra cứu thông tin thuộc tính của từng thửa đất và liên hệ giữa các thuộc tính với nhau. • Các thông tin về mặt kinh tế-xã hội - Các thông tin về quan hệ xã hội trong quá trình sử dụng đất bao gôm:chủ sử dụng đất,nguồn gốc sử dụng đất,phương thức sử dụng đất (giao,cho thuê, chuyển nhượng,thừa kế…), mục đích sử dụng đất, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất,quá trình chuyển quyền sử dụng đất,quyền sở hữu các giá trị đầu tư cho đất,đất không được cấp giấy chứng nhận.
- Các thông tin này được thiết lập trong quá trình đăng ký đất đai bằng phương pháp tổ chức kê khai đăng ký đất đai từ cấp cơ sở(xã,phường,thị trấn) trên cơ sở bản đồ địa chính. - Tổ chức kê khai đăng ký đất đai thực chất là thu thập các thông tin về quan hệ xã hội do chủ sử dụng đất cung cấp dưới hình thức viết đơn đăng ký quyền sử dụng đất của từng chủ sử dụng đất. • Các thông tin về cơ sở pháp lý h 5 - Các thông tin về cơ sở pháp lý bao gồm:tên văn bản, số văn bản,cơ quan phát hành văn bản,ngày tháng năm ký theo yêu cầu của từng loại hồ sơ địa chính. - Các thông tin pháp lý là cơ sở để xác định giá trị pháp lý của thửa đất.Vai trò của hệ thống hồ sơ địa chính đối với công tác quản lý đất đai Hồ sơ địa chính có vai trò rất quan trọng đối với công tác quản lý đất đai điều này được thể hiện thông qua sự trợ giúp của hệ thống đối với các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Hệ thống hồ sơ địa chính trợ giúp cho các nhà quản lý trong quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất đai và tổ chức thi hành các văn bản đó. Thông qua hệ thống hồ sơ địa chính mà trực tiếp là sổ đăng ký biến động đất đai nhà quản lý sẽ nắm được tình hình biến động đất đai và xu hướng biến động đất đai từ cấp vi mô cho đến cấp vĩ mô. Trên cơ sở thống kê và phân tích xu hướng biến động đất đai kết hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của từng cấp nhà quản lý sẽ hoạch định và đưa ra được các chính sách mới phù hợp với điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại từng cấp. Hệ thống hồ sơ địa chính trợ giúp cho công tác thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
Nếu như bản đồ địa chính được cập nhật thường xuyên thì nhà quản lý chỉ cần khái quát hóa là thu được nội dung chính của bản đồ hiện trạng sử dụng đất với độ tin cậy rất cao. Hơn thế nữa với sự trợ giúp của công nghệ thông tin thì công việc này trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, thậm chí chúng ta có thể lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất từng năm chứ không phải là 5 năm một lần như quy định hiện hành. Trong những năm gần đây do các quan hệ về đất đai ngày càng trở nên phức tạp bởi vậy yêu cầu quản lý các nội dung như: đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng ngày càng trở nên khó khăn. Đặc biệt là vấn đề thu hồi đất h 6 đai, giải phóng mặt bằng để phục vụ cho các dự án liên quan đến đất đai.
Nguyên nhân chính của vấn đề này là do giá đất bồi thường không sát với giá thị trường. Để giải quyết vấn đề này thì hồ sơ địa chính cần hướng tới quản lý cả vấn đề giá đất. Một vấn đề khác cũng đang rất nan giải ở các khu vực ven đô, nơi mà tốc độ đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ đó là tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy hoạch: người dân tự ý chuyển đất nông nghiệp, ao hồ thành đất thổ cư. Dẫn đến tình trạng này là do cơ quan quản lý đất đai địa phương không có được hệ thống hồ sơ địa chính phản ánh đúng thực trạng để kịp thời quản lý.
Các cơ quan quản lý đất đai không chỉ có các công tác quản lý Nhà nước về đất đai mang tính chất định kì như: quy hoạch sử dụng đất, thống kê kiểm kê đất đai, mà còn có những công việc mang tính thường xuyên như: giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai. Để giải quyết dứt điểm tranh chấp liên quan đến đất đai ở cấp cơ sở thì hệ thống hồ sơ địa chính phải được hoàn thiện đầy đủ và là cơ sở pháp lý vững chắc cho những quyết định giải quyết tranh chấp.