phần mở đầu và kết luận, luận văn kết cấu làm 3 chương: Chương /: ụý luận chung về chính sách cho thuê tài chính đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường. Chương II: 'Thực trạng chính sách cho thuê tài chính đối vói các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp. Chương III: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách cho thuê tài chính của ngân hàng nông nghiệp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thòi gian tới. 4 CHƯ Ơ N G I I LÝ LUẬN gHUNG VỂ CHÍNH SÁCH CHO THUÊ TÀI CHÍNH ĐÔÌ VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỂN KINH TÊ THỊ TRƯỜNG 1.1/ Cơ sở khoa học hình‘thành chính sách cho thuê tài chính h L L Sư ra đời và bản chất của cho thuê tài chính Hoạt động cho thuê tài sản đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn minh nhân loại, theo các tài liệu được biết, các giao dịch thuê mướn đầu tiên đã xuất hiện từ 2000 năm trước công nguyên với việc cho thuê các công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, quyền sử dụng nước, ruộng đất nhà cửa.
Các hình thức thuê để tài trợ cho việc sử dụng các công cụ này cũng được phát triển khá mạnh mẽ dươí các nền văn minh cổ đại khác như Hy lạp, La mã và Ai cập. Đầu thế kỷ XIX do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế hàng hoá, sô lượng và chủng loại tài sản cho thuê đã có sự gia tăng đáng kê, nhưng nhìn chung cho đến đầu thế kỷ XX, hình thức thuê mua tài sản chủ yếu vân là thuê mua kiểu truyền thống. Đến đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX, giao dịch thuê mua đã có những bước nhảy vọt. Nguyên nhân của sự phát triển này do hoạt động thuê mua đã có những thay đổi về tính chất giao dịch của nó, khắc phục được những mặt hạn chế của tín dụng ngân hàng thông thường như tài sản thế chấp, tiếp cận được những công nghệ tiên tiến.
Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, nghiệp vụ tín dụng thuê mua thuần hay còn gọi là thuê tài chính đươc sáng tạo ra trước tiên ơ Mỹ vao năm 1952 tại một công ty tư nhân có tên United State Leasing Corporation. Sau đó nghiệp vụ tín dụng thuê mua phát triển sang Châu âu và phát triển mạnh mẽ tại đó từ những năm của thâp kỷ 60 thê kỷ XX. Tín dụng thuê mua cũng phat tnên mạnh mẽ ở Châu Á và nhiều khu vực khác từ đầu thập kỷ 70 thế kỷ XX. Theo thống kê gần đây, nghành công nghiệp thuê mua có giá trị trao đổi chiếm khoảng 350 tỷ USD vào năm 1994.
Hiện nay ở Mỹ, ngành thuê mua thiết bị chiếm khoảng 25 - 5 30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm. Nguyên nhân chính thúc đẩy các hoạt động cho thuê tài chính phát triển nhanh là do nó thể hiện hình thức tài ụ-ợ có tính chất an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả cho các bên giao dịch. K h á i n iệ m v ề c h o th u ê tà i ch ín h : Từ khi ra đời cho đến nay, thuật ngữ cho thuê (leasing) được hầu hết các % quốc gia trên thế giới sử dụng nhằm hàm chỉ hoạt động cho thuê tài sản được các định chế tài chính (trong đó nhất thiết phải có công ty cho thuê tài chính) mua theo yêu cầu của bên thuê. Hết thời hạn thuê bên thuê được phép chuyển quyền sở hữu hoặc mua lại tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính.
u ỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (International Accounting Standards Committee - IASC) đưa ra định nghĩa “thuê mua tài chính “ như sau: Thuê mua tài chính (Finacial lease) là một giao dịch trong đó một bên (người cho thuê) chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (người đi thuê) trong một thời gian nhất định, mà trong thời gian đó, người cho thuê dự định thu hồi vốn tài trợ cùng các chi phí liên quan, quyền sở hữu tài sản có thể được chuyển giao hay không tuỳ theo sự thoả thuận giữa hai bên. Theo nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ thì khái niệm cho thuê tài chính được hiểu như sau: C ho thuê tài chính là m ột hoạt động tín dụng tru n g và dài hạn thông qua việc cho thuê m áy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trê n cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết m ua m áy móc, thiết bị phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả th u ận.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê 6 tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. C ă n c ứ và o ịC ấ c k h á i n iệ m trên có t h ể h iể u : C h o th u ê tà i ch ín h là m ộ t h ìn h th ứ c c h o th u ê tà i sả n c ó k è m lờ i h ứ a là k h i k ế t th ú c th ờ i h ạ n th u ê b ên th u ê đ ư ợ c q u y ề n lự a c h ọ n m u a lạ i tà i sả n th u ê h o ặ c tiế p tụ c th u ê tà i sả n th e o cá c đ iê u k iệ n đ ã th o ả th u ậ n tr o n g h ợ p đ ồ n g c h o th u ê tà i ch ín h. T ổ n g sô tiê n th u ê m ộ t lo ạ i tà i sả n q u y đ ịn h tạ i h ợ p đ ồ n g ch o th u ê tà i c h ín h , ít n h ấ t p h ả i tư ơ n g ♦ đ ư ơ n g với g iá tr ị c ủ a tà i sả n đ ó tạ i th ò i đ iể m k ý h ợ p đ ồ n g.
ở Viẹt Nam theo các văn bản pháp quy (luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 1/10/1998, nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ ban hành quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam) sử dụng các thuật ngữ “cho thuê tài chính” đối với các hoạt động nêu trên. Đ ố i tư ợ n g ch o th u ê : So với các phương thức tài trợ cổ điển dưới hình thức tiến tệ, cho thuê tài chính được thực hiện dưới hình thức tài sản. Tài sản trong cho thuê tài chính phổ biến là động sản, có thời gian sử dụng lâu dài và không dễ bị lạc hậu (như máy móc, trang thiết bị, ô tô, xe lửa, tàu thuyền. Ngoài ra bất động sản cũng có thê là đối tương của các giao dich cho thuê tài chính như dùng đê lập các siêu thị lớn, khách sạn, khu công nghiệp, khu chê suất, các trung tâm điện thoại.
Đối V Ớ I các loại tài sản này người thuê thường trú trọng lựa chọn tài sản thuê và lựa chọn nhà sản xuất. N h ữ n g n h â n tô 'cấ u th à n h m ộ t g ia o d ịch c h o th u ê tà i c h ín h : Như chúng ta đã biết tham gia nghiệp vụ cho thuê tài chính gồm ba bên: người cho thuê (bên cho thuê), người đi thuê (bên thuê)và nhà cung ứng. Bên cho thuê: Là công ty cho thuê tài chính có tư cách pháp nhân, người sẽ thanh toán toàn bộ giá tri mua bán tài sản theo thoả thuận giữa người thuê V Ớ I nhà sản xuất hay nhà cung ứng và là chủ sở hữu về mặt pháp lý của tài sản mà người thuê sử dụng. Trong trường hợp cho thuê tài sản của chính họ thì người cho thuê là nhà cung cấp thiết bị.
7 Bên thuê: Thường là doanh nghiệp và cá nhân, người có quyền sử dụng tài sản hưởn^ những lợi ích và gánh chịu những rủi ro liên quan đên tài san, co nghía vu trả những khoản' tiền thuê và được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tai san thuê theo thoả thuận. Nhà cung ứng: Là người cung cấp tài sản, thiết bị theo thoả thuận với người thuê và theo các điều khoản trong hợp đồng mua bán thiêt bi đã ki kêt V Ơ I ngươi cho thuê. Thông thường một giao dịch cho thuê thường được chia thành ba phần như » sau: * Thời hạn thuê cơ bản (Basic lease period): Là thời hạn mà người thuê trả những khoản tiền thuê cho người cho thuê để được quyền sử dụng tài sản. Đây là thời hạn mà tất cả các bên không được quyền huỷ ngang hợp đồng nếu không có sự chấp thuận của bên kia.
* Thời hạn gia hạn tuỳ chọn ( Optional renewal Period): Trong giai đoạn gia hạn thứ hai này, người thuê có thể tiếp tục thuê thiết bị tuỳ theo ý muốn của họ. Tiền thuê trong suốt giai đoan này thường rất thấp so V Ớ I tiên thuê trong thơi hạn cơ bản thường chiếm tỷ lê 1- 2 % tông sô vốn đầu tư ban đâu va thương phai tra trước vào đầu mỗi kỳ thanh toán. * Phần giá trị còn lại (Residual Value Share): Theo thông lệ, tại thời điểm kết thúc giao dich cho thuê tài chính người cho thuê thường uy quyên cho ngươi thuê làm đại lý bán tài sản. Người thuê được phép hưởng phần tiền bán tài sản lớn hơn so với giá mà người cho thuê đưa ra, hoăc được khâu trư vao tiên thue hay được coi như một khoản hoa hồng bán hàng.