CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày tổng quát đề tài đang nghiên cứu về lý do, tính cấp thiết để lựa chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng và ý nghĩa của nghiên cứu. Những nội dung giúp đưa ra cái nhìn bao quát về nội dung và quá trình hình thành đề tài, làm nền tảng cho việc tìm hiểu nghiên cứu sâu về các cơ sở lý thuyết liên quan trong các chương tiếp theo. HV: HUỲNH LÊ HUY - 2070540 5 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CHUỖI CUNG ỨNG TRONG XÂY DỰNG 2.
Khái niệm Chuỗi cung ứng trong xây dựng bao gồm tất cả các quá trình từ nhu cầu ban đầu của chủ đầu tư, thông qua thiết kế và thi công xây dựng, cho đến bảo hành, thay thế và hư hỏng có thể xảy ra trong một dự án. Nó cũng bao gồm tất cả các bên liên quan trong dự án như chủ đầu tư, giám sát, thiết kế, tổng thầu, thầu phụ và các nhà cung cấp kết nối với nhau bằng các mối quan hệ kinh tế. Chuỗi cung ứng còn là một mạng lưới nhiều tổ chức và nhiều mối quan hệ, trong đó bao gồm các dòng thông tin, vật liệu, dịch vụ, sản phẩm và dòng tiền giữa các bên tham gia [7]. Đặc điểm chuỗi cung ứng trong xây dựng [8] - Hội tụ: Tất cả các loại vật liệu sẽ được đưa đến công trường.
Công trường xây dựng được xem như một nhà máy được thiết lập cho một sản phẩm duy nhất, đó là công trình. Đặc tính này trái ngược với các hệ thống sản xuất khác khi có nhiều sản phẩm. - Thu hút: Chủ đầu tư sẽ tìm kiếm các nhà thầu chính đáp ứng được yêu cầu của họ. Nhà thầu chính lại tiếp tục tìm các nhà thầu phụ, nhà cung cấp vật liệu có thể giúp họ hoàn thành dự án.
Quá trình thu hút mở rộng chuỗi liên kết cứ tiếp tục và tạo ra một chuỗi các quan hệ kinh tế trong một dự án xây dựng. Có thể thấy chuỗi cung ứng trong dự án xây dựng rất phức tạp do chịu tác động của rất nhiều thành phần tham gia. - Chuỗi cung ứng của mỗi dự án xây dựng tạo ra một sản phẩm mới khác nhau. - Một chuỗi cung ứng chỉ được sử dụng cho một dự án duy nhất và thời gian của chuỗi phụ thuộc vào chu kỳ thực hiện của dự án.
Chuỗi cung ứng được hình thành cho một dự án xây dựng mang tính chất tạm thời, không ổn định và phân mảnh. - Số lượng khách hàng rất hạn chế, thường là một. HV: HUỲNH LÊ HUY - 2070540 6 Nguồn gốc của các cấu trúc SCM hiện tại là do O’Brien và Fischer [9], mục đích phát triển để giúp các công ty xây dựng giảm lãng phí, cải thiện chất lượng và tạo ra tiến độ chính xác, đáng tin cậy [1]. Hình 2-1 cho thấy tổng quan về một khung cấu trúc SCM điển hình, chỉ ra các loại mối quan hệ khác nhau liên quan đến các bên tham gia khác nhau trong chuỗi cung ứng của một dự án xây dựng.
Hình 2-1 Cấu trúc chuỗi cung ứng xây dựng [1] 2. Các vấn đề trong chuỗi cung ứng Quản lý chuỗi cung ứng xây dựng nhằm đảm bảo thông suốt dòng hàng hóa và dịch vụ đến công trường thông qua sự hợp tác giữa các bên tham gia chuỗi cung ứng [10]. Trong thực tế quản lý chuỗi cung ứng xây dựng đang gặp nhiều thách thức do các vấn đề tồn tại đã lâu, bao gồm sự thiếu tin cậy, phân tán và gián đoạn [11]. Các vấn đề về nguồn gốc xuất xứ và mâu thuẫn trong quá trình kiểm tra sản phẩm góp phần gây ra sự thiếu tin cậy [12].
Trong khi các vấn đề liên quan đến tính rời rạc, phân tán là do sự phân bố theo địa lý của các bên liên quan và nhiều giai đoạn trong chuỗi cung ứng [13]. Sự gián đoạn phát sinh do hệ thống quản lý chuỗi cung ứng xây dựng hiện tại đang thiếu dữ liệu đáng tin cậy cho các bộ phận chức năng phối hợp như kiểm tra sự tuân thủ, kiểm soát quá trình và đảm bảo chất lượng, đồng thời cũng có thể được quy cho mức độ hiển thị thông tin và khả năng truy xuất nguồn gốc thấp. Ví dụ, HV: HUỲNH LÊ HUY - 2070540 7 dữ liệu vật liệu vẫn chủ yếu được chuyển từ nhà máy/xưởng gia công đến công trường bằng biên bản giấy. Các quy trình thủ công như vậy rất tốn thời gian và có thể dẫn đến lỗi dữ liệu đầu vào, mất dữ liệu và giả mạo dữ liệu [14].
CÔNG NGHỆ BLOCKCHAIN 2. Khái niệm Công nghệ Blockchain (BCT) đã được thảo luận phổ biến trong những năm gần đây. BCT có nguồn gốc từ Satoshi Nakamoto, người đã tạo ra tiền điện tử Bitcoin [15]. BCT là một cơ sở dữ liệu phân tán (sổ cái) lưu giữ danh sách các bản ghi (giao dịch, thông tin, giao thức Internet (IP), v.
Các bản ghi này được gọi là khối. Mỗi khối có một dấu thời gian, một liên kết đến khối trước đó và chứa lịch sử của mọi khối (giao dịch) trước nó. Các khối này liên kết “chuỗi” với nhau. Mọi giao dịch đều được liên kết với một chữ ký mật mã duy nhất, dễ xác minh và gần như không thể bị làm giả vì blockchain được lưu trữ bởi một mạng lưới máy tính ngày càng tăng; mỗi máy tính là một 'nút' trong hệ thống và mỗi nút liên tục giám sát mọi nút khác.
Dữ liệu trên BCT được duy trì bởi mọi nút trên mạng, sao cho tất cả người dùng đều có quyền truy cập vào tất cả các giao dịch được thực hiện [1]. Đặc điểm chính của nó là người dùng có thể xem và thêm vào nhưng không được thay đổi các thông tin đã có [16]. Điều này dẫn đến hai tính năng của kho dữ liệu dựa trên Blockchain không có ở cơ sở dữ liệu truyền thống: - Toàn bộ lịch sử dữ liệu với tất cả các sửa đổi của nó (dấu thời gian, thông tin tác giả, …) được ghi lại và bảo vệ với một chữ ký mật mã điện tử. - Giải pháp không tập trung và không cần đến cơ quan trung ương đáng tin cậy bên ngoài [17].
Các đặc điểm quan trọng nhất của BCT [18]: - Phân cấp: BCT hoạt động trên sổ cái phân tán trên mạng ngang hàng phi tập trung. Không có máy chủ trung gian hoặc máy chủ tập trung nên nguy cơ xảy ra sự cố cục bộ được loại bỏ. Tất cả các nút có thể có quyền và nghĩa vụ như nhau (tùy thuộc vào mục đích của mạng). HV: HUỲNH LÊ HUY - 2070540 8 - Tính bất biến: Sau khi được ghi vào chuỗi khối, các giao dịch không thể được cập nhật hoặc bị xóa.
- Tính minh bạch: Trong mạng blockchain công khai, tất cả các nút đều được thông báo mỗi khi một giao dịch xảy ra. - Bảo mật: Đặc điểm phân quyền của Blockchain là một giao thức hiệu quả để tự ngăn chặn các cuộc tấn công. Để kiểm soát được một blockchain, những kẻ tấn công phải đồng thời hack nhiều thiết bị qua mạng, điều này khiến việc này rất tốn kém và gần như không thể. Blockchain sử dụng thuật toán băm và bảo vệ thuật toán mã hóa khóa bất đối xứng (chỉ những người được ủy quyền có một cặp khóa riêng và khóa chung chính xác có thể cho phép giao dịch) để đảm bảo an toàn dữ liệu.
- Khả năng kiểm toán: Bất cứ khi nào giao dịch được thực hiện, nó sẽ được ghi vào sổ cái với dấu thời gian, cho phép kiểm toán viên truy ngược lại chuỗi sự kiện khi cần thiết. - Đáng tin cậy: Tất cả các nút trong mạng phải thể hiện sự đồng thuận để thêm dữ liệu vào chuỗi khối. Điều đó giúp loại bỏ nguy cơ áp đảo lực lượng của một nút duy nhất trong mạng Những ứng dụng của BCT không chỉ dừng lại ở lĩnh vực thanh toán và tiền điện tử, nó cũng có thể cách mạng hóa SCM hiện tại của ngành xây dựng thông qua khả năng truy xuất nguồn gốc vật liệu và tạo ra một chuỗi hành trình đã được xác minh tính minh bạch cho tất cả các bên trong chuỗi cung ứng, đảm bảo chuỗi cung ứng đạt hiệu quả [19]. Với những đặc điểm kể trên, BCT đã và đang được ứng dụng hiệu quả trong những ngành công nghiệp khác nhau.
Các ứng dụng của BCT trong SCM Theo các nghiên cứu gần đây, ứng dụng của BCT đang ngày càng được phổ biến hơn trong các quy trình của SCM nhờ khả năng truy xuất nguồn gốc, số hóa, cải thiện tính minh bạch, khả năng hiển thị và tích hợp hợp đồng thông minh [20]. Việc áp dụng HV: HUỲNH LÊ HUY - 2070540 9 BCT trong SCM thường liên quan đến quản lý dữ liệu của chuỗi cung ứng [21]. BCT có thể giải đáp chi tiết ít nhất năm khía cạnh chính của sản phẩm bao gồm: Bản chất (nó là gì), chất lượng (nó như thế nào), số lượng (nó có bao nhiêu) , vị trí (nó đang ở đâu) và quyền sở hữu (ai sở hữu nó) vào bất kỳ thời điểm nào cần truy xuất [22]. Ngành xây dựng là một ngành có cuoix cung ứng tương đối phức tạp, bao gồm nhiều khía cạnh như cung ứng vật liệu xây dựng, nhân công, dịch vụ sản phẩm và đông đảo các thành phần tham gia.
Điều này sẽ tạo áp lực đến việc quản lý chuỗi cung ứng trong các dự án xây dựng một cách hiệu quả. Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào việc cải thiện các phần mềm công nghệ phục vụ cho SCM, hiện đang sử dụng nền tảng tập trung để ghi lại, quản lý, theo dõi và phân tích dữ liệu. BCT được cho là có thể cải thiện các quy trình hiện tại của quản lý chuỗi cung ứng [23] 2. Khả năng truy xuất nguồn gốc Các nhà thiết kế, nhà thầu và nhà cung cấp ngày nay đã nhận thức rõ hơn về nguồn gốc của vật liệu được sử dụng trong các dự án xây dựng vì những lý do như đảm bảo chất lượng nghiêm ngặt, sức khỏe và an toàn, tiêu chuẩn vật liệu và tính bền vững.
Tuy nhiên, hệ thống vẫn không thể tránh khỏi những sai sót và sơ suất. Việc giải quyết những sai sót này ngày càng trở nên quan trọng sau sự cố hỏa hoạn ở Tháp Grenfell vào năm 2017. Nơi được xác định nguồn gốc của tấm ốp liên quan đến sự lan nhanh của đám cháy, cùng với sự thật về đặc điểm kỹ thuật chữa cháy kém hiệu quả của nó. Điều mà nếu được xác định sớm hơn sẽ giúp ngăn chặn tai nạn thảm khốc này [19].
Cấu trúc rời rạc, phân tán của chuỗi cung ứng trong ngành xây dựng kết hợp rất tốt với hệ thống sổ cái phi tập trung của BCT.