phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung về vi phạm điều kiện kết hôn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2. Thực trạng vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam Chƣơng 3. Thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam và một số kiến nghị 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VI PHẠM ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN 1.
Khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội.Trong mỗi chế độ xã hội thì gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản của nó. Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là nhằm tái sản xuất ra con ngƣời, là quá trình duy trì nòi giống. Nếu không có sản xuất và tái sản xuất ra con ngƣời thì xã hội không thể phát triển cũng nhƣ không thể tồn tại đƣợc. Chính vì vậy hôn nhân là sự liên kết đặc biệt nhằm thực hiện chức năng đó một cách có hiệu quả và Nhà nƣớc chính là chủ thể để thừa nhận.
Hiến pháp năm 2013 đã quy định tại Điều 36 nhƣ sau: “1. Nam, nữ có quyền kết hôn , ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ HN&GĐ, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”.
Tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng ghi nhận quyền kết hôn nhƣ là một quyền tự do của con ngƣời: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về HN&GĐ có quyền tự do kết hôn. Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng “kết hôn” là một quyền cơ bản mà mỗi con ngƣời ai cũng có, nó cũng giống nhƣ quyền đƣợc sống, quyền đƣợc mƣu cầu hạnh phúc… và quyền đó đƣợc pháp luật công nhận, đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ. Khái niệm kết hôn Nhìn từ góc độ xã hội học, quan hệ HN&GĐ là một hình thức của quan hệ xã hội đƣợc xác lập giữa hai chủ thể nam và nữ, quan hệ này tồn tại và 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển theo quy luật của tự nhiên với mục đích đảm bảo sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài ngƣời.
Ngay cả khi không có bất kỳ một quy tắc, một quy định nào thì quan hệ HN&GĐ từ trƣớc đến nay vẫn đƣợc xác lập, con ngƣời vẫn chung sống, vẫn sinh con đẻ cái và tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác. Do đó, quyền kết hôn là một quyền tự nhiên, quyền con ngƣời. Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, những quy tắc xã hội dần dần xuất hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội khách quan mang tính ý chí. Kết hôn không còn là một quyền tự do, bản năng của con ngƣời mà trở thành một quan hệ xã hội đƣợc điều chỉnh, tác động bởi những quan hệ về lợi ích của giai cấp thống trị.
Khi ấy, mới bắt đầu xuất hiện những quan niệm đầu tiên về hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp. Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa đã dần đƣợc hình thành và tác động trực tiếp tới các quy luật tự nhiên, điều chỉnh các mối quan hệ tự nhiên đó theo những chuẩn mực mà xã hội đặt ra vì mục đích lợi ích của giai cấp thống trị. Chỉ đến khi trong xã hội loài ngƣời có sự xuất hiện của pháp luật thì quan hệ HN&GĐ từ một quan hệ tự nhiên mới chính thức đƣợc xem xét trên khía cạnh một quan hệ pháp luật.Khi đó, quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình là những quan hệ ý chí và phụ thuộc chặt chẽ vào ý chí pháp luật hay chính là những quy định pháp luật [62]. Dƣới góc độ pháp luật, trong hệ thống pháp luật trƣớc năm 1945 chƣa có văn bản nào đề cập đến khái niệm “kết hôn”, chỉ đến Luật HN&GĐ năm 1986 mới đƣa ra giải nghĩa nhƣ sau: “Kết hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng theo quy định của pháp luật.
Việc kết hôn phải thuận theo các Điều 5, 6,7 và 8 của Luật HN&GĐ”. Đến Luật HN&GĐ năm 2000 khái niệm này chính thức đƣợc định nghĩa tại khoản 2 Điều 8 và mới nhất là quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Để đảm bảo tạo ra những tế bào tốt, những gia đình ổn định, lành mạnh thì trƣớc hết ngay từ việc kết hôn của hai bên nam nữ đã phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định, sao cho cuộc hôn nhân đó đƣợc pháp luật cũng nhƣ xã hội công nhận. Theo quy định của Luật HN & GĐ 2014 thì nam nữ kết hôn đƣợc coi là hợp pháp khi đảm bảo hai yếu tố sau: Thứ nhất, phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn đƣợc kết hôn với nhau, sự bày tỏ ý chí phải thống nhất với ý chí, bởi lẽ đây là điều kiện đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý đồng thời là cơ sở xây dựng gia đình bền vững, hạnh phúc.
Ý chí và mong muốn đó đƣợc thể hiện bằng lời khai của họ trong tờ khai đăng ký kết hôn trƣớc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền. Thứ hai, việc kết hôn phải đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận. Hôn nhân chỉ đƣợc Nhà nƣớc thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân mà cụ thể là việc kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Nhƣ vậy khi kết hôn, hai bên nam nữ phải thể hiện và đảm bảo hai yếu tố nêu trên mới đƣợc pháp luật thừa nhận và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ chồng.
Từ những phân tích trên có thể đƣa ra khái niệm kết hôn nhƣ sau: Kết hôn là một sự kiện pháp lý nhằm xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở các bên đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn do pháp luật quy định và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận thông qua trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn. Khái niệm điều kiện kết hôn Việc kết hôn luôn gắn liền với các điều kiện kết hôn.Đảm bảo đầy đủ các điều kiện khi kết hôn là một trong những yếu tố không thể thiếu để công nhận hôn nhân hợp pháp. Do đó, việc đƣa ra khái niệm đầy đủ và khái quát cho thuật ngữ “điều kiện kết hôn” có ý nghĩa quan trọng. Nó vừa phản ánh đƣợc bản chất pháp lý của hôn nhân, vừa tạo ra cơ sở lý luận cho việc áp dụng pháp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật đúng đắn.
Tính hợp pháp của việc kết hôn đƣợc xem xét ở hai khía cạnh: điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Luật HN&GĐ năm 2014 quy định Điều kiện kết hôn tại Điều 8, còn Đăng ký kết hôn đƣợc quy định tại Điều 9.Thông qua thủ tục đăng ký kết hôn, cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam nữ. Các điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 gồm: - Điều kiện về độ tuổi quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”, nghĩa là nam, nữ phải đạt đến độ tuổi theo quy định pháp luật thì mới đƣợc phép kết hôn. Điểm b khoản 2 Điều 5 cấm hành vi “tảo hôn”, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một hoặc cả hai bên chƣa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điều khoản trên.
Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định độ tuổi kết hôn là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên, cách tính tuổi ở đây, đối với nữ là sau ngày sinh nhật thứ 17, đối với nam là sau ngày sinh nhật thứ 19 thì ngƣời đó có quyền kết hôn. Ví dụ : Một anh A sinh ngày 1/2/1992 thì sau ngày sinh nhật thứ 19, nghĩa là sau ngày 1/2/2011 thì anh ta đã đủ độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Đối với nữ, nếu chị B sinh ngày 31/12/1992 thì sau sinh nhật thứ 17, nghĩa là sau ngày 31/12/2009 thì đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên Luật HN&GĐ năm 2014 bắt buộc nam phải từ đủ hai mƣơi trở lên và nữ phải từ đủ mƣời tám tuổi trở lên.
- Điều kiện về ý chí tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết hôn.Tự nguyện là ý muốn, nguyện vọng của bản thân trong việc kết hôn mà không bị ép buộc, chi phối bởi các yếu tố khác.Điểm b khoản 1 Điều 8 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 5 cấm các hành vi “kết hôn giả tạo”, “cƣỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn”. Đây là các hành vi đi ngƣợc lại ý chí tự nguyện của hai bên nam, nữ. Cƣỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngƣợc đãi, yêu sách 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của cải hoặc hành vi khác để buộc ngƣời khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngƣợc đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của ngƣời có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật trái với ý muốn của họ.
Tuy nhiên, hành vi kết hôn giả tạo hay lừa dối kết hôn lại hoàn toàn không dễ xác định. Vì vậy, cần phải nhấn mạnh sự “tự nguyện” ở đây đƣợc hiểu là sự bày tỏ ý chí phải thống nhất với ý chí. Các hành vi kết hôn giả tạo và lừa dối kết hôn không có sự thống nhất giữa bày tỏ ý chí và mong muốn nguyện vọng đích thực.