CHƯƠNG 1 Trong chương này tôi đã trình bày tổng quan lý thuyết về vật liệu phát quang dùng để chế tạo LED trắng và các hiện tượng phát quang từ đó làm cơ sở nghiên cứu cũng như giải thích các kết quả khảo sát tính chất quang của các hệ vật liệu được nghiên cứu sau này. Nội dung trình bày trong chương 1 bao gồm: - Các khái niệm và đặc trưng về hiện tượng quang ion hóa, dập tắt huỳnh quang của vật liệu phát quang, hiện tượng nhiệt phát quang. - Các kiến thức cơ bản liên quan đến đặc điểm và chuyển dời quang học của các ion đất hiếm và kim loại chuyển tiếp, đặc biệt là trình bày cụ thể về ion đất hiếm Eu2+, Eu3+ và ion kim loại chuyển tiếp Mn2+. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KĨ THUẬT THỰC NGHIỆM 2.
PHƯƠNG PHÁP PHẢN ỨNG PHA RẮN NHIỆT ĐỘ CAO Trong xu hướng phát triển của các vật liệu phát quang hiện nay, nhiều nhóm nghiên cứu khoa học trong nước và trên thế giới đã và đang quan tâm cải tiến công nghệ chế tạo. Trong các công trình nghiên cứu gần đây vật liệu phát quang đã được chế tạo bằng nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp đồng kết tủa, phương pháp sol-gel, phương pháp phản ứng pha rắn nhiệt độ cao, phương pháp nổ, phương pháp thủy nhiệt… Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng. Tùy vào từng mục đích và điều kiện nghiên cứu cụ thể mà các nhà nghiên cứu có thể lựa chọn phương pháp chế tạo vật liệu phù hợp. Trong luận văn này, chúng tôi chọn phương pháp phản ứng pha rắn nhiệt độ cao để chế tạo vật liệu phát quang vì ưu điểm của phương pháp này là không đòi hỏi trang thiết bị và cách thức thực hiện quá phức tạp, có thể không chế được kích thước, hình dạng của hạt sản phẩm dạng bột nhờ kĩ thuật nghiền, trộn, thay đổi nhiệt độ nung, thời gian nung.
Quy trình chế tạo vật liệu phát quang bằng phương pháp phản ứng pha rắn nhiệt độ cao Công đoạn 1: Có nhiệm vụ tính toán thành phần của nguyên liệu ban đầu (đi từ oxit, hiđroxit, hoặc các muối vô cơ) sao cho đạt tỉ lệ hợp thức của sản phẩm mong muốn. Công đoạn 2: Có nhiệm vụ nghiền mịn, trộn đều để tăng diện tích tiếp xúc giữa các phần tử nguyên liệu ban đầu. Tùy theo khối lượng mẫu và yêu cầu của từng loại vật liệu việc nghiền, trộn có thể thực hiện với cối sứ, máy nghiền rung hoặc máy nghiền hành tinh. Thời gian nghiền có thể chỉ từ vài chục phút nhưng cũng có thể hàng giờ hoặc lâu hơn.
Để nhanh chóng hoàn tất công việc này khi nghiền có thể đưa vào hỗn hợp phối liệu một lượng dung môi thích hợp. Ngoài ra cần hết sức lưu ý rằng công đoạn này còn một yêu cầu nghiêm ngặt là hỗn hợp phối liệu không bị nhiễm bẩn trong quá trình nghiền trộn. 29 Công đoạn 3: Có nhiệm vụ làm tăng mức độ tiếp xúc giữa các phần tử chất tham gia phản ứng, làm giảm độ xốp của phối liệu. Áp lực nén, kích thước và độ dày của viên mẫu được lựa chọn tùy thuộc vào đặc trưng hóa, lý của từng thành phần phối liệu và điều kiện thiết bị hiện có.
Một vài trường hợp đặc biệt cần phải sử dụng phương pháp nén nóng (vừa nén vừa gia nhiệt). Công đoạn 4: Thực hiện phản ứng giữa các pha rắn đây là công đoạn quan trọng nhất. Sau khi đã gia tăng diện tích và mức độ tiếp xúc giữa các phần tử các chất phối liệu nhờ hai công đoạn trên, ở công đoạn này dùng nhiệt độ cao (hoặc rất cao) cung cấp động năng chuyển động nhiệt cho các phần tử phối liệu để chúng có thể khuếch tán, tiến lại gần nhau tạo ra phản ứng giữa các pha rắn. Trong nhiều trường hợp phản ứng giữa các pha rắn xảy ra không hoàn toàn, nghĩa là trong sản phẩm vẫn còn có mặt chất ban đầu chưa phản ứng hết sau một lần nung, thiêu kết.
Lúc đó thường phải tiến hành nghiền trộn, ép viên và nung lại lần thứ hai, ba…Chỉ khi phép đo phổ nhiễu xạ tia X cho biết trong sản phẩm đã hết chất ban đầu mới xem như kết thúc phản ứng. Điểm tồn tại nổi bật của phương pháp phản ứng pha rắn nhiệt độ cao là nhiệt độ nung, thiêu kết thường phải cao hoặc rất cao, lúc đó chúng ta rất khó duy trì sự ổn định nhiệt độ để đảm bảo tính đồng nhất của phản ứng pha rắn và sự kết tinh xảy ra đồng đều. Đồng thời, quá trình nghiền, trộn thường dễ làm cho vật liệu nhiễm bẩn tạp chất, sản phẩm thu được thường có kích thước hạt lớn [5, 6]. Cơ chế phản ứng giữa các pha rắn ở nhiệt độ cao Phản ứng pha rắn nhiệt độ cao là phản ứng đặc trưng bằng tương tác giữa chất rắn và chất rắn khi nung hỗn hợp ở nhiệt độ cao.
Khi đó trong hệ có thể xảy ra nhiều quá trình hóa, lí phức tạp tạo thành khuyết tật trong mạng tinh thể, quá trình chuyển pha, quá trình thiêu kết,…. Trong phản ứng giữa các pha rắn, chất tham gia phản ứng đều nằm định vị tại các nút mạng tinh thể của chất ban đầu. Phản ứng chỉ xảy ra tại bề mặt tiếp xúc giữa hai pha rắn của chất tham gia. Về điều kiện nhiệt động lực học 30 phản ứng có thể tự diễn biến ngay ở nhiệt độ phòng.
Nhưng về yếu tố động học thì phản ứng đó xảy ra với tốc độ cực kỳ chậm. Chỉ khi nung lên đến nhiệt độ cao mới có thể bắt đầu tạo một lớp sản phẩm rất mỏng ở biên giới tiếp xúc giữa hai pha. Sự hình thành lớp sản phẩm như vậy gọi là quá trình tạo mầm. Quá trình này đòi hỏi phải làm đứt một số liên kết cũ trong các chất phản ứng, hình thành một số liên kết mới trong sản phẩm.
Điều này chỉ có thể xảy ra khi có sự phân bố lại các ion ở chỗ tiếp xúc. Sự phá đứt liên kết cũ, hình thành liên kết mới, cũng như sự dịch chuyển các cation chỉ có thể xảy ra ở nhiệt độ cao, vì lúc đó các cation mới đủ năng lượng để dịch chuyển [5]. Sự tạo mầm dễ xảy ra trong trường hợp có sự giống nhau về cấu trúc tinh thể của pha sản phẩm và cấu trúc tinh thể của chất tham gia phản ứng, có sự giống nhau của kích thước tế bào mạng cũng như khoảng cách giữa các nguyên tử. Tốc độ tạo mầm sản phẩm cũng chịu ảnh hưởng lớn của cấu trúc bề mặt của tinh thể chất phản ứng.
Tóm lại: Để phản ứng pha rắn xảy ra thuận lợi, nhiệt độ xảy ra phản ứng tạo pha sản phẩm thấp, sản phẩm thu được có thành phần pha đồng nhất, đơn pha thì phải: - Diện tích bề mặt tiếp xúc giữa các chất phản ứng phải lớn: chất tham gia phản ứng có cấp hạt nhỏ, lực nén ép để tạo mẫu lớn, đảm bảo độ sít đặc của mẫu. - Cấu trúc tinh thể của các chất tham gia phản ứng và sản phẩm càng giống nhau càng tốt [5]. CHẾ TẠO VẬT LIỆU PHÁT QUANG CaSiO3:Eu2+, Mn2+ BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHẢN ỨNG PHA RẮN NHIỆT ĐỘ CAO Vật liệu phát quang CaSiO3:Eu2+, Mn2+ là một trong những vật liệu thuộc nhóm vật liệu silicate - kiềm thổ pha tạp các ion đất hiếm và kim loại chuyển tiếp hóa trị II có hiệu suất phát quang cao, không ảnh hưởng xấu đến môi trường, hiện đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Vật liệu phát quang CaSiO3:Eu2+, Mn2+ được chế tạo bằng phương pháp phản ứng pha rắn nhiệt độ cao ở điều kiện 1250oC trong 3 giờ, ở môi trường 31 khử.
Hóa chất ban đầu gồm: Các muối carbonate kiềm thổ CaCO3, SiO2, Eu2O3, MnO2 và chất chảy là B2O3. Các hóa chất được sử dụng có độ tinh khiết 99% sản phẩm của Sigma - Aldrich. Theo một số nghiên cứu thì việc thêm một lượng chất chảy vào phối liệu để chế tạo vật liệu silicate là thành phần không thể thiếu. Chất chảy thường được sử dụng là các hợp chất của các ion B3+, V5+.
Việc pha thêm chất chảy nhằm mục đích hạ nhiệt độ thiêu kết của vật liệu để các thành phần dễ tạo thành hợp thức. Theo một số tài liệu đã nghiên cứu thì đối với vật liệu silicate - kiềm thổ pha tạp các ion đất hiếm và kim loại chuyển tiếp thì chất chảy thường được sử dụng là B2O3 [38]. Các mẫu vật liệu được chế tạo bằng phương pháp phản ứng pha rắn nhiệt độ cao tại phòng thí nghiệm khoa Vật Lí, trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng.1 là quy trình chế tạo vật liệu phát quang CaSiO3: Eu2+, Mn2+ bằng phương pháp phản ứng pha rắn nhiệt độ cao. Phối liệu ban đầu: CaCO3, SiO2, Eu2O3, MnO2, B2O3.
Hỗn hợp được nghiền, trộn. Nung hỗn hợp ở 12500C trong môi trường khử. Sản phẩm CaSiO3:Eu2+, Mn2+ Hình 2. Quy trình chế tạo vật liệu CaSiO3:Eu2+, Mn2+bằng phương pháp phản ứng pha rắn nhiệt độ cao.
32 Các bước cụ thể của quy trình chế tạo mẫu vật liệu phát quang CaSiO3:Eu2+, Mn2+ được tiến hành như sau: Bước 1: Chuẩn bị khuôn Khuôn là các cốc sứ được rửa sạch cho vào máy siêu âm, sau đó lấy ra sấy khô bằng tủ sấy ở nhiệt độ khoảng 500C. Bước 2: Cân và nghiền hóa chất Cân hóa chất theo tỉ lệ đã tính toán bằng cân điện tử có độ chính xác 0,001gam. Phối liệu được cân theo đúng tỉ lệ hợp thức, đây là công đoạn cần sự tỉ mỉ và chính xác nên ta phải hết sức cẩn thận trong quá trình cân phối liệu, để đạt tỉ lệ hợp thức về khối lượng các chất ban đầu nhằm tạo ra sản phẩm mong muốn. Hóa chất sau khi cân xong được nghiền mịn và trộn đều trong cối sứ.
Cân điện tử. đoạn nghiền phối liệu giúp cho các thành phần hợp thức trộn lẫn đều với nhau để khi phản ứng xảy ra sản phẩm có kết tinh đồng đều. Nhiệm vụ của việc nghiền mịn, trộn đều nhằm tăng diện tích tiếp xúc giữa các phần tử nguyên liệu ban đầu. Ngoài ra, một yêu cầu nghiêm ngặt trong công đoạn này đó là hỗn hợp phối liệu không bị nhiễm bẩn trong quá trình nghiền, trộn.
Do đó chúng Hình 2. ta phải hết sức cẩn trọng trong công đoạn này. 33 Bước 3: Sấy hóa chất Hóa chất sau khi được nghiền mịn, trộn đều được cho vào cốc nung và sấy khô bằng tủ sấy ở nhiệt độ khoảng 50oC. Bước 4: Nung mẫu Hóa chất sau khi được sấy khô sẽ được cho vào lò điện nung nhiệt độ 1250oC trong 3h, rồi để nguội tự nhiên.
* Lưu ý: Khi bật lò nung phải mở cửa, bật quạt, tạo môi trường thoáng khí để nhiệt độ lò nung được ổn định.