CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 1. Một số quan niệm 1. Quan niệm về văn hóa Văn hóa là một một hiện tượng khách quan, là lĩnh vực tồn tại và phát triển gắn liền với đời sống tinh thần của nhân loại, là đặc trưng riêng của con người. Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp nhưng trong quá trình phát sinh và phát triển, đời sống văn hóa của con người vẫn chịu sự quy định của những quy luật chung và đều hướng tới những chuẩn mực cụ thể.
Quy luật bao giờ cũng có tính khách quan, và quy luật xã hội hình thành từ hoạt động có ý thức của con người, các chuẩn mực xã hội về lối sống, nếp sống đều do con người đặt ra, chịu sự quy định chặt chẽ của các điều kiện khách quan, quy định các hoạt động của chính con người. Nghiên cứu về các quy luật, chuẩn mực của sự hình thành và phát triển đời sống văn hóa tinh thần của xã hội và của con người cho thấy văn hóa xã hội phát triển không ngừng. Con đường phát triển của nó không phải là vòng khép kín hay đường thẳng mà là theo hình xoắn trôn ốc bởi sự phát triển này không có giới hạn và hội tụ 3 yếu tố: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên. Chính vì vậy, quan niệm văn hóa đa nghĩa và có rất nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Các học giả ở mỗi đất nước, dân tộc trong mỗi thời kì lịch sử, ngành nghề khác nhau đều có những cách lý giải riêng về văn hóa. Cụ thể là ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Trong cuốn “ Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” Giáo sư Phan Ngọc xuất bản năm 1994 cho biết trên thế giới có khoảng trên 400 định nghĩa về văn hóa. Điều đó cho ta thấy sự phong phú, đa dạng và phức tạp của quan niệm này.
Nhưng ở trong đề tài này, chúng ta không nên coi văn hóa như một hoạt động riêng biệt mà phải xem xét ở góc độ là một hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực bản chất của con người, hướng con người vươn tới những giá trị chân- thiện-mỹ, là hoạt động nhằm tạo ra những giá trị, chuẩn mực xã hội, xây dựng nhân cách của con người. Với góc độ này, văn hoá hiện diện ở mọi hoạt động sản xuất vật chất cũng như sản xuất tinh thần của con người, trong mọi quan hệ ứng xử xã hội hay thái độ đối với thiên nhiên. Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo SV: Nguyễn Thị Bích Ngọc 6 Lớp: ĐH QTVP K13D Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người". [26] , tức là văn hóa ám chỉ toàn bộ các giá trị tinh thần và vật chất mà con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “văn hóa” được mượn trong tiếng Hán cổ chỉ việc “văn trị, giáo hóa” để phân biệt với việc dùng võ lực, nghĩa là lấy cái đẹp, kiến thức để giáo hóa, giáo dục con người nhưng lại hiểu theo nghĩa “văn hóa” có nguồn gốc từ phương Tây. Ở phương Tây năm 1871, quan niệm văn hóa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi trên thế giới do nhà nhân chủng học Edward Burnett Tylor đưa ra: “văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và toàn bộ những kỹ năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội” [26]. Định nghĩa Tylor miêu tả thuần túy và khách quan, không mang tính chuẩn tắc. Ở đây, văn hóa đã được định nghĩa theo những gì mà văn hóa bao hàm, biểu hiện toàn thể đời sống xã hội của con người, các đặc trưng văn hóa thuộc về phạm vi tập thể, văn hóa được phổ biến lưu truyền, không do di truyền sinh học.
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người thì C.Ăngghen đã cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình. Văn hóa là biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.” Với quan niệm trên, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần: Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất; Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. Như vậy, nói tới văn hoá là nói tới con người, tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Do vậy, văn hoá có mặt trong mọi hoạt động của con người.
Nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế - chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử. Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor định nghĩa về văn hóa trong Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa năm 1987 -1988 như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [21;Tr6]. Định nghĩa của Mayor có một điểm đáng lưu ý là đã chỉ ra được văn hoá làm nên nét khác biệt giữa các cộng đồng dân tộc, tiếp cận với cái bản thể của văn hóa, chỉ ra hệ thống giá trị, truyền thống, thị hiếu là yếu tố cốt lõi, là nền tảng tinh thần của nó.
Đặc biệt là “yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” đã tạo nên hệ thống các biểu tượng SV: Nguyễn Thị Bích Ngọc 7 Lớp: ĐH QTVP K13D Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Nội vụ Hà Nội mang tính đa dạng. Nhưng sự khác biệt giữa các hệ thống biểu tượng không phản ánh được hết bản chất nội hàm văn hóa theo cách toàn diện. Vì thế, những sự khác biệt này phải được thống nhất trong một chỉnh thể nền văn hóa chung để tạo nên hệ thống các giá trị, có thể xem đó là vấn đề mang tính quy luật của sự hình thành và phát triển của bất kỳ nền văn hóa nào trên thế giới. Trên tinh thần của UNESCO Nghị quyết Hội nghị lần thứ V của BCHTW khoá VIII đã nhận định rằng: "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội" [8;Tr114].
Nhìn chung đội ngũ CBCNC trong HNP là lực lượng có bản lĩnh vững vàng, hoạt động có mục đích, có ý chí phấn đấu mạnh mẽ, tính tự chủ cao, sáng tạo trong công việc, trung thành với cơ quan tổ chức. Với quan niệm này, văn hóa đã trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức phát triển, sức mạnh tiềm tàng và bản lĩnh, cốt cách của dân tộc. Văn hoá được lưu giữ, chắt lọc, kế thừa và phát triển, phát huy qua các thế hệ nên đã thấm sâu vào mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc và xã hội để làm nền tảng cho sự phát triển tất yếu. Mỗi quốc gia, dân tộc phát triển không thể chỉ dựa vào nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, tài chính.
mà còn phải chủ động phát huy tối đa nguồn lực con người, là làm cho văn hóa thấm sâu vào trong các lĩnh vực và hoạt động xã hội, thấm sâu vào mọi lĩnh vực sinh hoạt của con người biến thành "nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển". Theo một số học giả, quan niệm văn hóa cũng có những điểm riêng như TS. Đỗ Minh Cương: “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bảng giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trước hết là hệ các giá trị chân – thiện – mỹ”. Quan niệm này đã chỉ ra rằng văn hóa là phương tiện đắc lực để con người “điều chỉnh” bản thân và cuộc sống của mình theo định hướng vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử"[28].TSKH Trần Ngọc Thêm đưa ra quan niệm về văn hóa được nhiều người đánh giá là tương đối phù hợp và đầy đủ: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” [26] Mỗi người nhìn nhận văn hóa dưới một góc độ khác nhau. Vì vậy, việc có nhiều quan niệm văn hóa khác nhau không có gì là đáng ngạc nhiên, trái lại càng làm cho vấn đề được hiểu theo một cách phong phú và toàn diện hơn. Đặc biệt là Chủ tịch Hồ SV: Nguyễn Thị Bích Ngọc 8 Lớp: ĐH QTVP K13D Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Chí Minh – một nhà tư tưởng vĩ đại đã đưa ra quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, của loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏi của sự sinh tồn”.