Chương 1 đã giới thiệu sơ lược về cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Abenla, bối cảnh chung của ngành, bối cảnh của Công ty. Trên cơ sở nêu lên một số đặc điểm tiêu biểu của ngành và Công ty, có thể kết luận hệ thống đo lường chiến lược của đại đa số các doanh nghiệp trong ngành CNTT nói chung cũng như Công ty TNHH Abenla nói riêng đều sử dụng công cụ truyền thống là các thước đo tài chính, các thước đo này chỉ có tác dụng đo lường kết quả đạt được trong quá khứ nhưng không đủ khả năng để định hướng và đánh giá Công ty trong thời đại thông tin khi giá trị Công ty luôn gắn liền với các mối quan hệ khách hàng, sự cải tiến liên tục, tư duy sáng tạo, nguồn nhân lực…Chiến lược của Công ty được xây dựng đơn giản dựa vào phân tích thành quả năm tài chính, những mặt đạt được hay chưa đạt được, rồi từ đó rút kinh nghiệm, xây dựng mục tiêu cho năm sau, rõ ràng các công ty chỉ tập trung triển khai và hành động chiến lược về tài chính, tăng doanh số chứ chưa chú trọng đến quy trình nội bộ hay nhân lực. 13 HƯƠN 2: NHỮN H NH ÔN M MÔ HÌNH S MAN L Mô hình BSC lần đầu tiên được các doanh nghiệp Việt Nam biết đến từ khoảng những năm 2000 và được giới thiệu nhiều trong các hội thảo về triển khai ứng dụng các mô hình quản trị kinh doanh. Từ năm 2005, BSC đã bắt đầu được một số doanh nghiệp chú ý và tìm cách tiếp cận.
Tuy nhiên, phải đến năm 2010, BSC mới thực sự được nhiều doanh nghiệp áp dụng với tư cách là một công cụ quản trị. Đi đầu là các doanh nghiệp trong hệ thống ngân hàng, tiếp đến là các doanh nghiệp lớn như FPT, Phú Thái, PNJ, VNPT… Chương 2 s đi sâu tìm hiểu về câu chuyện thành công mà mô hình BSC mang lại tại các DN ở Việt Nam và trên thế giới.1 Các công ty trong nước đã vận dụng thành công S 2.1 rường hợp 1: ông ty ổ phần àng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) PNJ tiền thân là Cửa hàng Kinh doanh Vàng bạc Đá quý Quận Phú Nhuận, được thành lập vào ngày 28/04/1988, trực thuộc UBND Quận Phú Nhuận. Ngày 02/01/2004, PNJ chính thức cổ phần hóa. Vốn điều lệ hiện nay hơn 700 tỷ đồng.
Từ 2004 đến 2011, trong quá trình cổ phần hóa và trở thành công ty đại chúng đòi hỏi PNJ cần có những điều chỉnh trong công tác hoạch địch chiến lược. Tháng 10 năm 2011, dưới sự tư vấn của Value Parters, PNJ bắt đầu triển khai xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn theo định hướng trở thành một trong những tổ chức chế tác và bán lẻ trang sức hàng đầu châu Á đồng thời, áp dụng mô hình BSC để quản trị quá trình thực thi chiến lược. Dưới sự lãnh đạo của bộ máy quản lý cao cấp có trình độ, kinh nghiệm và sẵn sàng tiếp cận nhiều mô hình quản lý tiên tiến, PNJ đã xây dựng lộ trình tiếp cận BSC hết sức thận trọng vã kỹ lưỡng gồm 7 giai đoạn : “Giai đoạn 1: Toàn bộ Ban Lãnh đạo cao cấp của PNJ tham gia các khóa tư vấn về BSC và đo lường hiệu quả hoạt động theo mô hình BSC, Giai đoạn 2: Ban Tổng Giám đốc thống nhất chủ trương, cam kết và hoạch định lộ trình thực hiện, 14 Giai đoạn 3: Truyền thông và đào tạo cho cán bộ quản lý chủ chốt của Công ty, Giai đoạn 4: Truyền thông và đào tạo đến các cấp quản lý trung gian, Giai đoạn 5: Truyền thông, và đào tạo nhận thức cho mọi đối tượng trong công ty Giai đoạn 6: Triển khai thực hiện thí điểm và điều chỉnh phù hợp với thực tế Giai đoạn 7: Áp dụng và vận hành” PNJ đã xây dựng cho mình lộ trình hết sức rõ ràng và khoa học. Báo cáo thường niên 2017 của PNJ một lần nữa khẳng định về quy trình gắn kết mục tiêu phát triển bền vững vào chiến lược phát triển của PNJ: “Nâng cao nhận thức & gắn kết mục tiêu phát triển bền vững vào chiến lược phát triển dài hạn -> gắn kết mục tiêu phát triển bền vững vào chiến lược kinh doanh cụ thể -> cụ thể hóa hành động và thực thi -> báo cáo, rà soát và đánh giá định kỳ”.
Sau bảy năm triển khai mô hình BSC, thành tựu đạt được của PNJ được cụ thể hóa tại hình 2.1: Nguồn: Báo cáo của PNJ Hình 2.1: hống kê số lượng cửa hàng và Lợi nhuận gộp của ông ty ổ phần àng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) từ 2011 đến 2017 Những thành quả mà PNJ đạt được xứng đáng được thuộc Top 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam năm 2017 do Công ty Định giá Thương hiệu Brand Finance (Anh) công bố trong khuôn khổ hội thảo Quản lý và tăng cường chỉ số sức mạnh thương hiệu vào ngày 28/12 năm 2017 tại Hà Nội với giá trị là xếp hạng 23/50, thể hiện ý chiến chiến đấu không mệt mỏi của một tập thể và sự đúng đắn của đội ngũ lãnh đạo của PNJ. 15 Mô hình BSC thực sự rất mới đối với Công ty TNHH Abenla, do đó để vận dụng thành công, bài học kinh nghiệm mà công ty nên học hỏi tại mô hình đã triển khai thành công tại PNJ cụ thể là: Thứ nhất, Quyết định và quyết tâm mạnh m của đội ngũ lãnh đạo về tái cấu trúc, quản trị chiến lược, bắt đầu thay đổi từ con người, bộ máy tổ chức, chú trọng đầu tư vào khoa học kỹ thuật, con người và đào tạo; Thứ hai, Vận dụng có sáng tạo về mô hình mới phù hợp với đặc thù riêng của Công ty trong từng giai đoạn, cụ thể Công ty đã xây dựng lộ trình hết sức rõ ràng và khoa học.2 rường hợp 2: ông ty ổ phần FP Công ty cổ phần FPT (FPT) (tên cũ là Công ty Phát triển và Đầu tư Công nghệ), là công ty dịch vụ công nghệ thông tin lớn nhất tại Việt Nam chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan công nghệ thông tin, hiện là doanh nghiệp lớn thứ 25 tại Việt Nam theo danh sách được công bố của VNR 500 năm 2018. Lãnh đạo FPT phê duyệt Chiến lược One FPT với lộ trình 13 năm (2011 - 2024) với định hướng tập trung vào phát triển công nghệ và đặt mục tiêu “FPT phải trở thành tập đoàn toàn cầu hàng đầu của Việt Nam”. Báo cáo tài chính của FPT giai đoạn 2011-2012 cho thấy cho thấy tốc độ tăng trưởng của Tập đoàn cầm chừng ở mức 20%/năm, trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải phá sản thì tốc độ tăng trưởng đó không thấp, nhưng lại sụt giảm so với mức tăng trưởng trên 50%/năm của thời điểm trước khi FPT lên sàn chứng khoán (cuối năm 2006), do đó cần một chiến lược mới phù hợp để đạt được mục tiêu.
Tập đoàn FPT nhận thức được sức mạnh của BSC chính là khả năng sắp xếp tầm nhìn và kiểm soát mục tiêu đã đề ra. Do đặc thù là tập đoàn với nhiều công ty thành viên, kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau nên FPT lựa chọn mô hình BSC cơ bản của Kaplan - công cụ kiểm soát mục tiêu để tập trung được nguồn lực vào một hướng. Khác với phương pháp quản trị trước đây của FPT khi việc xây dựng chiến lược chỉ tập trung ở Hội đồng quản trị, thì ở phương pháp mới, tất cả các chỉ tiêu kinh doanh của các công ty thành viên đều được hiển thị ở bản đồ chiến lược và 16 mọi nhân viên đều có trách nhiệm phải tham gia vào chiến lược chung của tập đoàn. Theo định kỳ hàng tuần, tháng, các bộ phận liên quan có trách nhiệm giải trình về nội dung chiến lược và tìm cách giải quyết nếu không đạt mục tiêu.
Tháng 8/2012, Tập đoàn chính thức áp dụng BSC vào hệ thống quản lý 30/10/2012, sau 2 tháng triển khai, FPT thống nhất bản đồ chiến lược phiên bản 1.0 của tập đoàn và 6 công ty thành viên. 7/2014 FPT xây dựng 14 bản đồ, 51 thẻ điểm và 1.052 chỉ số 3/2015 FPT giới thiệu công cụ eBSC tại website bsc.vn nhằm hỗ trợ Ban lãnh đạo tập đoàn và các công ty thành viên theo dõi kịp thời tiến độ, trạng thái của từng dự án và kế hoạch được đã được cụ thể hóa trên bản đồ BSC, từ đó có những sắp xếp hợp lý hơn. Báo cáo thường niên của FPT năm 2018 nhấn mạnh: “Áp dụng phương pháp quản trị chiến lược bằng hệ thống “Thẻ điểm cân bằng” (Balanced Scorecard - BSC). BSC đã giúp FPT thiết lập được hệ thống quản lý hữu hiệu vượt trội thông qua việc: 1.
Xác lập và đo lường được những mục tiêu trọng yếu nhất của toàn Tập đoàn, của từng phòng ban/đơn vị và gắn trách nhiệm tới từng cá nhân; 2. Đồng bộ những hoạt động thường nhật với tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu và chiến lược chung của Tập đoàn; 3. Giúp nhân viên, từng phòng ban/đơn vị theo sát những mục tiêu này.” Trải qua 7 năm triển khai xây dựng và áp dụng mô hình, dưới góc độ quản lý, BSC là công cụ hỗ trợ giúp lãnh đạo FPT kiểm soát mục tiêu dễ dàng. Bản đồ chiến lược của FPT được chia thành 3 mảng: Sản ph m mới làm thay đổi FPT, Cải tiến lĩnh vực kinh doanh hiện tại và Quản trị hiệu quả.
Trên bản đồ có các thẻ điểm gồm bộ mục tiêu chiến lược, chỉ tiêu đo lường và kế hoạch hành động tương ứng. Tất cả các chỉ số đều được thể hiện bằng màu sắc: Xanh (đạt từ 100% trở lên), Vàng (80 - 90%), Đỏ (20 - 80%) và Tím (dưới 20%). Với bản đồ này, lãnh đạo Tập đoàn chỉ cần nhìn vào đó có thể tìm ra được công ty nào không đạt chỉ tiêu, từ đó tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục. 17 Kết quả kinh doanh của FPT từ 2014-2018 được trình bày tóm tắt tại hình 2.2: Nguồn: Báo cáo thường niên FPT năm 2018 Hình 2.2: óm tắt kết quả kinh doanh của FP từ 2013-2017 Quá trình xây dựng hệ thống đo lường BSC tại FPT đã rút ra được những kinh nghiệm sau: Thứ nhất, Trước tiên cần thay đổi nhận thức về quản trị của cả hệ thống FPT nếu muốn áp dụng hiệu quả BSC; Thứ hai, Sự chia sẻ, hiểu biết và cam kết BSC là yếu tố cần thiết để tất cả các công ty thành viên cũng như người lao động nỗ lực hoàn thành mục tiêu; 2.