chương 1, điều 1, khoản 1 quyết định này có quy định Bổ sung 40.000 triệu đồng (bốn mươi tỷ đồng) cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (theo phụ lục đính kèm) từ nguồn chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo năm 2011 thuộc ngân sách Trung ương năm 2011 để hỗ trợ thành lập mới, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ hợp tác xã, tổ hợp tác năm 2011 theo quy định tại Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Việc quản lý, sử dụng số kinh phí được hỗ trợ thực hiện theo đúng quy định hiện hành [8]. - Nghị định số 88/NĐ- CP. Tại điều 4 chương 2 nghị định này có quy định về bồi dưỡng, đào tạo như sau: Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng trong hợp tác xã được quy định như sau: Các chức danh trong Ban Quản trị, Ban Chủ nhiệm, Ban Kiểm soát, kế toán trưởng, Xã viên đang làm công việc chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ của hợp tác xã.
Các khoản hỗ trợ theo quy định như sau: Hỗ trợ tiền vé đi, vé về bằng phương tiện giao thông công cộng (trừ c 14 máy bay) từ trụ sở hợp tác xã đến cơ sở đào tạo, kinh phí mua tài liệu của chương trình khóa học, các khoản chi phí tổ chức, quản lý lớp học, thuê hội trường, thù lao giảng viên, tham quan, khảo sát [4]. Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình phát triển HTX tại Việt Nam Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến hết năm 2015 cả nước có 19 liên hiệp HTX trong lĩnh vực nông nghiệp (03 liên hiệp HTX trồng trọt, 01 liên hiệp HTX xã chăn nuôi, 01 liên hiệp HTX thủy lợi và nước sinh hoạt, 03 liên hiệp HTX nuôi và khai thác thuỷ sản, 11 liên hiệp HTX dịch vụ tổng hợp); có 10.902 HTX nông nghiệp, chiếm 55,5% tổng số HTX trong cả nước, tập trung nhiều nhất là ở vùng Đồng bằng sông Hồng (33,5%), tiếp đến là Bắc Trung bộ (19,7%) và Đông Bắc bộ (16,9%), thấp nhất là Đồng bằng sông Cửu Long (11,2%). Đa số các HTX nông nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh tổng hợp (khoảng 8.
Số lượng các hợp tác xã chuyên ngành không nhiều (khoảng 2.866 hợp tác xã, chiếm 26,3%), trong đó: 1.242 HTX trồng trọt, 362 HTX chăn nuôi, 457 HTX thủy lợi và nước sinh hoạt, 151 HTX lâm nghiệp, 601 HTX thuỷ sản, 53 HTX diêm nghiệp. Tuy số lượng HTX nông nghiệp thành lập mới hiện nay trên phạm vi cả nước mỗi năm khá cao, khoảng 800 hợp tác xã/năm, song do số lượng HTX nông nghiệp giải thể vì hoạt động kém hiệu quả cũng rất lớn khoảng 550 hợp tác xã/năm nên về tổng số HTX nông nghiệp tăng trung bình chỉ khoảng 250 HTX/năm [14]. Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển HTX của một số địa phương 2. HTX trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Tính đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh có 563 HTX, trong đó 107 HTX chuyển đổi, 456 HTX thành lập mới với tổng số vốn đăng ký kinh doanh đạt gần 380 tỷ đồng, thu hút gần 8 nghìn xã viên tham gia và trên 86 c 15 nghìn hộ gia đình tham gia HTX.
Quá trình đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể nói chung và kinh tế hợp tác xã nói riêng đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, củng cố quan hệ kinh tế nông thôn. Trong số các loại hình HTX này thì khối HTX dịch vụ nông nghiệp chiếm gần 50% tổng số các hợp tác xã trong tỉnh. Qua khảo sát cho thấy về cơ bản các HTX nông nghiệp thời gian qua đã tích cực vận động nông dân chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, phát triển kinh tế trang trại, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào trồng trọt, chăn nuôi. Số các HTX phi nông nghiệp thì nguồn vốn của loại hình này đã được hình thành từ tài sản của cá nhân hợp tác với nhau tạo thành thế mạnh để hoạt động vì vậy bộ máy quản lý gọn nhẹ, Chủ nhiệm HTX chủ động giải quyết, xử lý thông tin trong quá trình sản xuất kinh doanh nên hoạt động kinh doanh hiệu quả [15].
Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Thời điểm 31/12/2015 trên địa bàn tỉnh có 212 HTX, giảm 9 HTX so với năm 2014, hiện tại số HTX tạm ngừng hoạt động là 40 HTX. Đến nay, trên địa bàn có 26 HTX hoạt động theo đúng Luật HTX năm 2012 (đăng ký lại 7, thành lập mới là 19), chiếm 12,3% tổng số HTX hiện có. Trong đó: + Lĩnh vực Nông, lâm nghiệp có 113 HTX (trong đó: Chăn nuôi có 12 HTX; chế biến nông, lâm sản có 33 HTX; nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp có 68 HTX). + Lĩnh vực Phi nông nghiệp có 99 HTX (trong đó: HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 43 HTX; xây dựng 25 HTX; giao thông vận tải 4 HTX; thương mại, dịch vụ 11 HTX và hoạt động trong lĩnh vực khác 16 HTX).
- HTX hoạt động hiệu quả: 41 HTX; chiếm 19,3%; (trong đó HTX NN: 27); - HTX trung bình có: 131 HTX; chiếm 61,8%; (trong đó HTX NN: 70); - HTX hoạt động không hiệu quả: 40 HTX, chiếm 18,9 %; (trong đó HTX NN là: 16) [13]. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Kết quả phát triển HTX, trang trại trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên tính đến năm 2010 - Tình hình phát triển trang trại: Toàn tỉnh hiện có 702 trang trại (tăng 314 trang trại so với năm 2001), trong đó có 14 trang trại trồng cây lâu năm, 434 trang trại chăn nuôi, 69 trang trại lâm nghiệp, 10 trang trại nuôi trồng thuỷ sản và 175 trang trại kinh doanh tổng hợp. Trang trại tập trung chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên 196 trang trại, Đồng Hỷ 88 trang trại, Phổ Yên 78 trang trại, Phú Bình 129 trang trại, Đại Từ 56 trang trại, ngoài ra còn rải rác ở các huyện khác. Các trang trại sử dụng 3.132 ha đất nông nghiệp, trung bình mỗi trang trại có 5,3 ha đất.
Thường xuyên giải quyết việc làm cho 1.812 lao động, bình quân có 3 lao động/1trang trại, lao động thuê ngoài chiếm 17,6% (319 người) còn lại là lao động của hộ gia đình chủ trang trại. Thực tế, kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tạo ra các mô hình có hiệu quả, giải quyết các vấn đề về tổ chức sản xuất như: tích tụ ruộng đất, tích luỹ vốn, áp dụng nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, định hướng rõ ràng là sản xuất hàng hoá. Tạo ra sự liên kết hợp tác dịch vụ sản xuất, thu hút vốn nhàn rỗi của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm. những vấn đề mà kinh tế hộ khó giải quyết được.
Đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nông thôn như đường giao thông, thông tin liên lạc, nước sinh hoạt, thuỷ lợi, khai hoang phục hoá diện tích đất trống, đồi trọc. - Hợp tác xã nông nghiệp Hiện nay có 123 hợp tác xã nông nghiệp với ngành nghề kinh doanh rất đa dạng trong đó số HTX chuyển đổi là 71 HTX, thành lập mới có 47 HTX. Số HTX được cấp giấy phép kinh doanh là 94 HTX, còn lại số HTX chưa c 17 được cấp giấy phép kinh doanh do cơ chế hoạt động còn nhiều vướng mắc, chưa có vốn hoạt động. Nhìn chung kinh tế HTX đã khắc phục được một số tồn tại yếu kém trước đây, nhu cầu hợp tác của người dân ngày càng rõ nét, bản thân các HTX cũng nỗ lực phấn đấu vươn lên, nhiều HTX đã từng bước trưởng thành trong cơ chế thị trường.
Tuy đã có chuyển biến tích cực ở một số HTX nhưng đến nay vẫn còn 70% HTX chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém, năng lực hiệu quả hạn chế [16]. Bài học kinh nghiệm từ các địa phương Với một tổ chức đi vào hoạt động như HTX chăn nuôi động vật bản địa thì việc tổ chức sản xuất cũng gặp không ít khó khăn, đòi hỏi người quản lý cần phải học hỏi thêm kinh nghiệm từ các mô hình chăn nuôi của nhiều địa phương khác để có được mô hình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả Qua nhiều lần tham khảo từ các địa phương và các mô hình tổ chức sản xuất thì chủ nhiệm HTX chăn nuôi động vật bản địa nhận thấy chăn nuôi và cung ứng các sản phẩm từ hươu là một hướng đi mới nhằm phát triển kinh tế. Sau quá trình tìm hiểu về kỹ thuật chăn nuôi hươu sao, các sản phẩm từ hươu sao và các nghị quyết thông tư của chính phủ đối với ngành chăn nuôi và nhu cầu chung của xã hội thì ông Trần Đình Quang đã huy động sự tham gia của một số hộ gia đình xây dựng HTX chăn nuôi động vật bản địa với tổng số lượng hiện nay là 128 con hươu và 22 con ngựa bạch c 18 PHẦN 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP 3. Khái quát về cơ sở thực tập 3.
Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Tức Tranh 3. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Xã Tức Tranh thuộc huyện Phú Lương là một xã Trung Du Miền Núi của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía Nam của huyện cách trung tâm thành phố 30km, với tổng diện tích là 2559,35ha. Vị trí địa lí của xã như sau: - Phía Bắc giáp xã Phú Đô và xã Yên Lạc. - Phía Đông giáp xã Minh Lập và Phú Đô.
- Phía Tây giáp xã Yên Lạc và xã Phấn Mễ. - Phía Nam giáp xã Vô Tranh. - Xã Tức Tranh bao gồm 24 xóm và chia thành 4 vùng. - Vùng phía Tây bao gồm 5 xóm: Tân Thái, Bãi Bằng, Khe Cốc, Minh Hợp, Đập Tràn.
- Vùng phía đông bao gồm 7 xóm: Gốc Lim, Đan Khê, Thác Dài, Gốc Gạo, Ngoài Tranh, Đồng Lòng. - Vùng tâm bao gồm 7 xóm: Cây Thị, Khe Xiêm, Sông Găng, Đồng Danh, Đồng Hút, Quyết Thắng, Quyết Tiến. - Vùng phía bắc gồm 5 xóm: Gốc Cọ, Gốc Mít, Đồng Lường, Đồng Tâm, Đồng Tiến. * Địa hình đất đai Xã Tức Tranh có tổng diện tích là 2559,35ha, trong đó diện tích đất sử dụng là 2252,35ha, chiếm 99,73% đất chưa sử dụng là 7 ha chiếm 0,27% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, diện tích đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ rất nhỏ, đó là những vùng đất ven đường, ven sông (Bảng3.
c 19 Mặc dù là xã sản xuất nông nghiệp là chính tuy nhiên diện tích đất bình quân đầu người của xã rất nhỏ, chỉ có 0,15 ha/người trong đó đất trồng lúa chỉ có 0,03 ha/người, đất trồng hoa màu 0,008 ha/người.