Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về tín dụng 1.1Khái niệm về tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Tiếng Anh gọi là Credit. Theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn.
Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu cầu. Tín dụng là mối quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tín dụng là “phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay.
Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá cho người cho vay kèm theo một khoản lãi” (Lê Hữu Ảnh, Vũ Hồng Quyết, 1997). Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường: “Tín dụng là những hành động cho vay, bán chịu hàng hoá và vốn giữa những người sở hữu khác nhau. Tín dụng không phải là hoạt động vay tiền đơn giản mà là hoạt động vay tiền có điều kiện, tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức. Tín dụng là hình thức đặc thù vận động giá trị khác với lưu thông hàng hoá đơn thuần: vận động giá trị nên dẫn tới phương thức mượn tài khoản, bồi hoàn và giá trị thanh toán”.
Bản chất, chức năng và các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trường a. Bản chất của tín dụng: Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Ở bất kỳ phương thức sản xuất nào, tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài như là sự vay mượn tạm thời tài sản, hàng hoá hoặc một số vốn tiền tệ, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hoá hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi. Để hiểu rõ bản chất của tín dụng cần phải nghiên cứu mối liên hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối liên quan của nó với quá trình tái sản xuất (Đỗ Xuân Luận, 2017).
Tín dụng rất đa dạng và phong phú về hình thức. Bản chất của tín dụng được 6 thực hiện ở các điểm sau: -Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng trong một thời gian nhất định. -Sau khi nhận được vốn tín dụng, người đi vay được chuyển quyền sử dụng để thoả mãn một hay một số mục đích nhất định. -Đến thời gian do hai bên thoả thuận, người vay hoàn trả lại người cho vay giá trị lớn hơn số vốn vay ban đầu, phần tăng thêm này gọi là tiền lãi.
Các-Mác viết về bản chất của tín dụng như sau: Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với điều kiện là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định. Có nhiều cách diễn đạt về tín dụng nhưng đều phản ánh một bên là người cho vay, bên kia là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, chính sách lãi suất và pháp luật hiện hành. Sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù khác.
Chức năng của tín dụng: - Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn trả: Đặc điểm tuần hoàn vốn luôn dẫn đến tình trạng thừa và thiếu vốn tạm thời. Thừa vốn khi các chủ thể có thu nhập nhưng chưa cần chi tiêu và thiếu vốn khi họ cần chi tiêu nhưng lại chưa có thu nhập. Đây là mâu thuẫn vốn có và nảy sinh thường xuyên của nền kinh tế, được giải quyết bằng hoạt động của các loại hình tín dụng. Chức năng này của tín dụng thể hiện hai nội dung cơ bản, đó là: - Tập trung vốn: Tín dụng thông qua các cơ quan chức năng của mình là ngân hàng thương mại, ngân hàng chuyên doanh, tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
tiến hành huy động, tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để hình thành quỹ cho vay. Nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội tồn tại dưới dạng tiền hay hiện vật với thời gian nhàn rỗi khác nhau. Để tăng cường thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi này, cần có những chính sách và giải pháp thích hợp cho từng thời kỳ. - Phân phối lại vốn: Trên cơ sở quỹ cho vay đã có, tín dụng tiến hành phân phối cho các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu cần bổ sung vốn và đủ điều kiện vay vốn.
Quá trình này không những đòi hỏi phải tuân theo các nguyên tắc tín dụng, mà còn phải chấp hành đầy đủ những quy định của pháp luật hiện hành về tín dụng. Cả hai 7 nội dung trên của tín dụng đều phải thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo hiệu quả sử dụng và tiết kiệm vốn. Chính vì vậy, nguyên tắc hoàn trả là một tất yếu của tín dụng.
Tập trung và phân phối lại vốn nhàn rỗi là chức năng cơ bản của tín dụng, thực hiện tốt chức năng này có ý nghĩa quan trọng. Quá trình tập trung và phân phối lại vốn của tín dụng đã giúp cho các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện mới trong môi trường cạnh tranh. Do đó, chức năng này đã góp phần vào việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế quốc dân. - Kiểm soát các hoạt động kinh tế bằng tiền: Phần lớn các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thị trường được thực hiện thông qua các tổ chức tín dụng.
Cho nên, vốn cho khách vay là vốn của người khác. Hơn nữa, các khoản cho vay được hoàn trả đúng hạn là điều kiện tiên quyết để các tổ chức tín dụng tồn tại và phát triển. Với lý do trên, kiểm soát các hoạt động kinh tế bằng tiền đối với người đi vay là rất cần thiết. Trong quá trình tập trung và phân phối lại vốn, các chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng kiểm soát lẫn nhau nhằm bảo vệ lợi ích của mình và tác động tích cực đến quá trình lành mạnh hoá các hoạt động kinh tế - xã hội.
Trọng tâm của chức năng này là kiểm soát đối với người đi vay. Việc kiểm soát phải được tiến hành trong cả quá trình cho vay, tức là kiểm soát trước khi cho vay, trong khi phát tiền vay và sau khi cho vay đến lúc người vay hoàn trả xong nợ. Kiểm soát hoạt động kinh tế bằng tiền là một chức năng quan trọng của tín dụng. Thực hiện đầy đủ chức năng này có ý nghĩa đảm bảo cho các tổ chức tín dụng thu hồi vốn cho vay đúng thời hạn, nâng cao khả năng thanh toán.
Đó là các yếu tố để các tổ chức tín dụng duy trì hoạt động bình thường và phát triển c. Các hình thức tín dụng: Cho đến nay đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về lý luận và thực tiễn các hình thức tín dụng trong kinh tế thị trường. Các nghiên cứu đó đã phân tích tín dụng theo các tiêu thức như thời gian, đối tượng cho vay, mục đích và hình thức biểu hiện của vốn và chủ thể các quan hệ tín dụng. Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng, tín dụng được chia thành tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp.
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng được chia thành tín dụng ngắn hạn (thời gian cho vay dưới 1 năm), tín dụng trung hạn (thời gian cho vay từ 1-5 năm, tín dụng 8 dài hạn (thời gian cho vay trên 5 năm). - Theo đặc điểm của vốn, tín dụng được phân chia ra thành tín dụng vốn lưu động cho vay để hình thành nên tài sản lưu động, tín dụng vốn cố định cho vay để hình thành nên tài sản cố định. - Theo mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng gồm hai loại chủ yếu, tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá và tín dụng tiêu dùng. - Theo hình thức biểu hiện vốn vay, tín dụng bao gồm tín dụng bằng tiền và tín dụng bằng hiện vật.
- Theo phương diện tổ chức, tín dụng có thể chia thành tín dụng chính thống và không chính thống: + Tín dụng chính thống: là hình thức huy động vốn và cho vay vốn công khai theo luật, hoặc chịu sự quản lý và giám sát của chính quyền nhà nước các cấp. Hình thức này bao gồm hệ thống ngân hàng, kho bạc nhà nước, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, các công ty tài chính, một số tổ chức tiết kiệm,các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế, các chương trình và các dự án của các ngành được thực hiện bằng nguồn vốn tín dụng của chính phủ và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IFM) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp của Liên hợp quốc (IFAP). Tín dụng chính thống giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tín dụng của các quốc gia. + Tín dụng phi chính thống là tín dụng do các tổ chức, cá nhân nằm ngoài các tổ chức chính thống đã kể trên thực hiện.
Tín dụng không chính thống là các hình thức tín dụng hoạt động ngoài khuôn khổ luật định. Tuy vậy, hình thức này có ý nghĩa to lớn trong việc cung ứng bổ sung vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhất là ở nông hộ khi mà thị trường vốn chính thống chưa đủ mạnh. Tín dụng phi chính thống bao gồm cho vay nặng lãi, chơi hụi, họ, cho vay cầm đồ, vay mượn từ bạn bè, người thân. Hầu hết các nghiên cứu về tín dụng nông thôn đã chứng tỏ rằng: thị trường tín dụng không chính thống rất phổ biến ở tất cả các nước Châu Á.