phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của công nghệ thông tin đối với qúa trình hình thành và phát triển kinh tế tri thức Chƣơng 2: Thực trạng phát triển công nghệ thông tin và tác động của công nghệ thông tin đến quá trình hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. Chƣơng 3: Quan điểm và những giải pháp phát triển công nghệ thông tin nhằm hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 1.
KINH TẾ TRI THỨC VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC. Kinh tế tri thức và đặc điểm của kinh tế tri thức 1. Quan niệm về kinh tế tri thức Quá trình phát triển của nhân loại gắn liền với sự phát triển của LLSX. Xét từ thủa sở khai đến nay, quá trình phát triển của LLSX có thể được chia ra làm ba giai đoạn tương ứng với ba mức trình độ phát triển của nền kinh tế thế giới; giai đoạn kinh tế sức lao động, giai đoạn kinh tế tài nguyên và giai đoạn kinh tế tri thức.
Giai đoạn kinh tế sức lao động (bắt đầu từ giai đoạn đầu của văn minh nhân loại và kéo dài đến cuối thế kỷ XVIII) có đặc điểm là phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào sự chiếm hữu và phân phối sức lao động. Trình độ khoa học kỹ thuật thấp, năng suất lao động thấp. Trong giai đoạn này, con người sử dụng các kỹ thuật thô sơ, lạc hậu, phát triển kinh tê chủ yếu dựa vào ngành sản xuất thứ nhất - ngành nông nghiệp nên giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn kinh tế nông nghiệp. Cho dù trải qua một thời gian dài phát triển, nhưng cho đến trước cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX trình độ sản xuất vẫn không thay đổi.
Năng suất lao động chủ yếu dựa vào sức lực cửa người lao động. Trong giai đoạn kinh tế sức lao động phân phối sản xuất tiến hành chủ yếu dựa vào chiếm hữu tài nguyên sức lao động. Trong giai đoạn này, giáo dục không được phổ cập, người mù chữ chiếm đại đa số, nhân tài rất khó phát huy 6 tác dụng. Giai đoạn kinh tế tài nguyên hay còn gọi là kinh tế công nghiệp (Xuất hiện lần đầu tiên ở nước Anh vào nửa sau thế kỷ XVIII) là giai đoạn phát triển nền kinh tế chủ yếu quyết định bởi sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên với các tư liệu lao động đã phát triển tới một trình độ cao hơn, máy móc đã dần dần thay thế sức lao động và trở thành yếu tố quyết định năng suất lao động.
Giai đoạn này nền kinh tế phát triển khá nhanh nhờ khai thác ồ ạt tài nguyên thiên nhiên. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã làm cho nền kinh tế thế giới tăng trưởng với nhịp độ 0,6%/năm. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai từ đầu thế kỷ XIX đến cuối những năm 70 của thế kỷ XX đã làm cho nền kinh tế thế giới tăng trưởng với nhịp độ 2%/năm. Riêng trong 20 năm, từ năm 1950 đến năm 1970, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai đã đưa nền kinh tế thế giới tăng trưởng với tốc độ rất cao, gần 6%/năm.
Trong giai đoạn này, nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào các ngành công nghiệp, chủ thể của nền kinh tế là các công nhân nhà máy. Hàm lượng về năng lượng, nguyên liệu, thiết bị, vốn chiếm phần rất lớn trong một sản phẩm. Sự phân phối sản xuất chủ yếu dựa vào chiếm hữu rất lớn trong một sản phẩm. Sự phân phối sản xuất chủ yếu dựa vào chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên.
Trong nền kinh tế công nghiệp, việc sử dụng và khai thác tài nguyên trí lực ngày càng tăng dần, tạo tiền đề cho sự ra đời của nền kinh tế tri thức. Quá trình đó trải qua ba giai đoạn. +Cách mạng công nghiệp: Giai đoạn này kéo dài khoảng một thế kỷ, có sự chuyển biến từ kỹ năng cơ khí sang công nghệ. Trong giai đoạn này tri thức được áp dụng cho các công cụ sản xuất và sản phẩm, nhưng tri thức chỉ được cho là kỹ thuật.
7 +Cách mạng năng suất: Giai đoạn này bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ XIX và kết thúc vào chiến tranh thế giới lần thứ nhất (khoảng 75 năm). Taylor một kỹ sư người Mỹ đã biết áp dụng tri thức vào việc tổ chức lao động, hợp lý hoá quá trình sản xuất và tối đa hoá hiệu quả của các phương thức sản xuất. Tuy nhiên phương pháp TayLor chủ yếu được áp dụng có hiệu quả cho lao động chân tay. Cùng với cách mạng năng suất, số người lao động chân tay đã giảm đáng kể và vấn đề nổi lên là năng suất lao động của những công nhân không phải là lao động chân tay.
Và nó yêu cầu vận dụng tri thức vào tri thức. +Cách mạng quản lý: Giai đoạn này bắt đầu từ năm 1945 và trải qua gần 50 năm để có thể chiếm lĩnh vị trí thống lĩnh toàn cầu. Ở hai giai đoạn trước tri thức được áp dụng vào việc sản xuất các công cụ lao động, các phương pháp sản xuất, vào sản phẩm và vào tổ chức lao động của con người. ở giai đoạn này, vận dụng tri thức là để biết làm thế nào sử dụng vốn tri thức hiện có để tạo ra kết quả sản xuất.
Hay nói cách khác, đó chính là vận dụng tri thức trong quản lý. Khi công việc quản lý có hiệu quả bằng việc vận dụng tri thức vào tri thức thì chúng được coi là một nguồn lực có sức mạnh to lớn. Giai đoạn kinh tế tri thức: hay còn gọi là kinh tế hậu công nghiệp là giai đoạn phát triển kinh tế chủ yếu dựa trên sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên trí lực, khoa học kỹ thuật sẽ trở thành một thành phần cơ bản của LLSX. (Kinh tế tri thức ra đời đầu tiên ở Mỹ vào những năm 70 của thế kỷ 20 và sau đó là ở nhiều nước công nghiệp phát triển.
Và ngày nay ở cả những nước công nghiệp mới (NICs)). Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cơn sốt giá dầu mà nguyên nhân cơ bản là là tài nguyên thiên nhiên đang dầm cạn kiệt. Thực tế đó đòi hỏi giới khoa học kỹ thuật phải tìm cách giải quyết theo các hướng như tìm kiếm nguồn năng lượng mới, phát minh ra các chất liệu mới, phát triển các công nghệ mới… Vì 8 thế, trong giai đoạn này, quốc gia nào nắm được khoa học công nghệ thì quốc gia đó càng có điều kiện và khả năng phát triển kinh tế nói chung và kinh tế tri thức nói riêng. Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, những tiến bộ có tính chất bùng nổ của LLSX do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt ở các nước phát triển và các nước công nghiệp mới (NICs) đang tạo nên sự biến đổi lịch sử có ý nghĩa quan trọng; Nền kinh tế chuyển từ kinh tế tài nguyên sang kinh tế tri thức, nền văn minh nhân loại chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ.
Ở giai đoạn này khoa học –công nghệ trở thành LLSX trực tiếp. Khoa học trực tiếp tạo ra các sản phẩm và có vị trí quan trọng hàng đầu. Kết quả nghiên cứu khoa học cũng nhanh chóng trở thành hàng hoá. Công nghệ cao phát triển như vũ bão.
Phát triển mạnh nhất là những ngành sản xuất và dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức và công nghệ cao. Phát triển kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu khoa học- công nghệ. Chủ thể của kinh tế tri thức là người lao động có tri thức, sản phẩm làm ra có hàm lượng chất xám cao. Những năm gần đây trong nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và trong nhiều văn bản chiến lược phát triển của các quốc gia người ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế như; kinh tế thông tin (information economy), kinh tế mạng (network economy), kinh tế học hỏi (learning economy), Kinh tế dựa vào tri thức (knowledge based economy), kinh tế tri thức (knowledge economy).
Trong số các tên gọi trên, kinh tế tri thức là tên gọi thường dùng nhất. Tổ chức OECD chính thức dùng từ năm 1996. Tên gọi này nói lên cốt lõi của nền kinh tế mới. Theo OECD: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển 9 kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Sự phân phối nguồn tài nguyên của kinh tế tri thức: Trong nền kinh tế tri thức, tài nguyên trí lực và vốn vô hình là nhân tố quan trọng nhất trong việc phân phối tài nguyên. Việc phân phối nguồn tài nguyên thiên nhiên thông qua tri thức, trí lực được tiến hành một cách khoa học, hợp lý, tổng hợp, tập trung, không ỷ lại vào nguồn tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt như đất đai, dầu mỏ… Đồng thời kinh tế tri thức phải dốc sức vào việc thông qua nguồn tài nguyên trí lực để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt do kinh tế công nghiệp gây ra. - Các ngành sản xuất chủ yếu của kinh tế tri thức: Trong sản xuất, kinh tế tri thức lấy các ngành sản xuất kỹ thuật cao làm nền tảng. Các ngành sản xuất kỹ thuật cao lại lấy khoa học kỹ thuật cao làm chỗ dựa.
Theo sự phân loại của tổ chức liên hợp quốc thì khoa học kỹ thuật cao chủ yếu có các ngành; công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng mới và năng lượng tái sinh, công nghệ vật liệu mới, khoa học kỹ thuật không gian, khoa học kỹ thuật Hải Dương… (theo quy định của khu công nghiệp kỹ thuật cao quốc tế, khi nào thành phần kỹ thuật cao được nâng lên vượt quá 70% thì kỹ thuật truyền thống mới được gọi là kỹ thuật cao). Tuy nhiên, kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp vẫn tồn tại, và không phải tất cả kỹ thuật truyền thống đều phải cải tạo thành kỹ thuật cao. - Sử dụng sản phẩm của kinh tế tri thức: Là phải sử dụng các tri thức mới được sinh ra thông qua sản phẩm kỹ thuật cao.