CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA VÀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CỦA VIỆT NAM Trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã có nhiều đổi mới, từ một nền kinh tế khép kín đã trở thành một bộ phận năng động của nền kinh tế toàn cầu. Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, mức sống và thu nhập của người dân được nâng cao, tỷ lệ đói nghèo giảm, và ngày càng là một trong những điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, song nền kinh tế đã và đang bộc lộ những thách thức và vấn đề nội tại, năng lực cạnh tranh (NLCT) còn yếu trên nhiều mặt.
Nhìn chung, NLCT quốc gia của Việt Nam được đánh giá và xếp hạng ở mức khiêm tốn, thường thấp hơn so với các nước trong khu vực. Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển bền vững là nội dung quan trọng đối với phát triển kinh tế của Việt Nam. Trong thời gian qua, các khía cạnh khác nhau về NLCT quốc gia của Việt Nam đã được đánh giá và xếp hạng qua một số Bảng xếp hạng thường niên trên thế giới bao gồm Báo cáo NLCT toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới (WB), Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh của tạp chí Forbes, Báo cáo chỉ số tự do kinh tế của Quỹ hỗ trợ di sản và Tạp chí phố Wall, Chỉ số Quản trị toàn cầu của Ngân hàng thế giới, Chỉ số Cảm nhận tham nhũng của Tổ chức minh bạch quốc tế [1]. Các báo cáo xếp hạng nói trên có phương pháp luận và hệ thống các chỉ số khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu khác nhau của các tổ chức liên quan.
Chưa có sự đồng thuận hoàn toàn giữa các tổ chức về phương pháp và hệ thống chỉ số đánh giá và xếp hạng NLCT quốc gia [2]. Đánh giá NLCT của một quốc gia thông qua bộ chỉ số là một nhiệm vụ đầy thách thức bởi vì có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới NLCT quốc gia, các yếu tố đó khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và trình độ phát triển của từng nền kinh tế cụ thể. Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia 1. Khái niệm Năng lực cạnh tranh quốc gia Thuật ngữ năng lực cạnh tranh (NLCT) được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, cả trong cộng đồng các nhà hoạch định chính sách và trong giới nghiên cứu.
Những 9 tranh luận về khái niệm NLCT xoay quanh các quan điểm về thị phần, chi phí, hiệu quả thương mại, năng suất, mức sống hay tiếp cận từ năng lực của doanh nghiệp, môi trường kinh doanh. Có thể nói, khái niệm và bản chất NLCT có thể hiểu một cách đa dạng và do đó khó có được sự nhất trí về lý thuyết cũng như thực tế. Tuy vậy, hiện nay quan điểm phân tích NLCT từ khía cạnh năng suất được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia cũng như các học giả nghiên cứu vận dụng. Trong đó, áp dụng phổ biến nhất là quan điểm của Porter [12].
Porter nhìn nhận năng lực cạnh tranh là những yếu tố tạo ra của cải và tăng hiệu quả kinh tế. Khả năng thực hiện điều này phụ thuộc vào năng suất (productivity) mà qua đó lao động và vốn của một nước được sử dụng. Như vậy, NLCT là một tập hợp các nhân tố quyết định năng suất của một quốc gia; trên cơ sở tiến bộ về năng suất sẽ xác lập mức độ thịnh vượng mà một nền kinh tế có thể đạt được [12, 13]. Kế thừa và phát triển quan điểm đánh giá NLCT thông qua yếu tố năng suất của Porter, rất nhiều nghiên cứu sau này đã chỉ ra rằng năng suất là động lực cốt lõi thể hiện sự khác biệt về mức độ thịnh vượng giữa các quốc gia [7, 9].
Theo đó, các nghiên cứu cũng đề xuất các bộ yếu tố (bộ chỉ số) nhằm giải thích sự khác biệt về năng suất giữa các quốc gia [7, 13, 4]. Báo cáo NLCT toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới và Xếp hạng Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới đã phát triển và thể hiện được nhiều yếu tố từ các đề xuất này [5]. Các tài liệu chính sách như Chương trình Tăng trưởng của OECD [11] và Chiến lược 2020 của Ủy ban châu Âu [3] phần lớn tiếp cận NLCT quốc gia dựa vào năng suất. Vì những lý do trên, xây dựng phương pháp và bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam dựa trên cách tiếp cận về năng suất là một lựa chọn hợp lý.
Theo đó, trên cơ sở xác định các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sẽ thiết kế bộ chỉ số đánh giá NLCT phù hợp với thực trạng của Việt Nam. Một số phương pháp đánh giá và xếp hạng NLCT quốc gia trên thế giới a) Mô hình các nhân tố nền tảng của NLCT theo quan điểm của Porter Năng lực cạnh tranh Vi mô Mức độ tinh thông Chất lượng môi Trình độ phát triển trong chiến lược & trường kinh doanh cụm ngành hoạt động công ty quốc gia Năng lực cạnh tranh Vĩ mô Hạ tầng xã hội và Chất lượng chính Thể chế chính trị sách vĩ mô Các lợi thế tự nhiên Tài nguyên thiên Vị trí địa lý Quy mô nhiên Hình 1.1 Các yếu tố nền tảng của NLCT theo quan điểm của Porter M. Porter [12, 13] đưa ra khung khổ phân tích về các nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh. Theo đó, khái niệm có ý nghĩa duy nhất về NLCT là năng suất.
Theo Michael Porter, có ba nhóm nhân tố quyết định NLCT của một quốc gia, bao gồm (i) Các yếu tố lợi thế tự nhiên của quốc gia (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, quy mô), (ii) NLCT vĩ mô (hạ tầng xã hội và thể chế chính trị, chất lượng chính sách vĩ mô), và (iii) NLCT vi mô (mức độ tinh thông trong chiến lược và hoạt động của công ty, trình độ phát triển cụm ngành, chất lượng môi trường kinh doanh quốc gia) (xem Hình 1). 11 Theo quan điểm của Porter, các yếu tố lợi thế tự nhiên của quốc gia mặc dù không tác động đến năng suất, nhưng có thể hỗ trợ trực tiếp cho việc tạo ra sự thịnh vượng. Các nhân tố này cũng tạo ra một môi trường tổng thể mà trong đó một nền kinh tế và vị thế tương đối của nó so với các nền kinh tế khác được xác định. Nhóm NLCT vĩ mô xác định môi trường hay bối cảnh chung mà trong đó các công ty hoạt động.
Các nhân tố này bao gồm chất lượng của hạ tầng xã hội và thể chế chính trị cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô. Nhóm nhân tố này không tác động trực tiếp lên năng suất nhưng tạo ra cơ hội cho các yếu tố thúc đẩy năng suất được phát huy. Nhóm NLCT vi mô thể hiện cách thức các công ty hoạt động và các yếu tố bên ngoài có tác động trực tiếp lên kết quả hoạt động của các công ty. Nhóm nhân tố này bao gồm sự tinh thông của doanh nghiệp, trình độ phát triển các cụm ngành và chất lượng của môi trường kinh doanh.
Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh • Các quy định và động lực khuyến khích đầu tư và năng suất • Độ mở và mức độ của cạnh tranh trong nước Các điều kiện nhân tố Các điều kiện cầu đầu vào • Mức độ đòi hỏi và khắt khe của • Tiếp cận các yếu tố đầu vào khách hàng và nhu cầu nội địa chất lượng cao Các ngành CN hỗ trợ và liên quan • Sự có mặt của các nhà cung cấp và các ngành công nghiệp hỗ trợ 12 Hình 1. Mô hình Kim cương của Porter Nguồn: Porter (1998) Ở cấp độ vi mô, Môi trường kinh doanh là điều kiện bên ngoài giúp doanh nghiệp, do đó là ngành đạt được mức năng suất và trình độ đổi mới, sáng tạo cao hơn. Để đánh giá chất lượng của môi trường kinh doanh ảnh hưởng tới NLCT ngành, Porter phát triển mô hình Kim cương với bốn góc thể hiện bốn đặc tính tổng quát của môi trường kinh doanh, bao gồm: (i) các điều kiện về nhân tố đầu vào, (ii) các điều kiện cầu, (iii) các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, và (iv) bối cảnh cho chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh (xem Hình 2). b) Các nhân tố ảnh hưởng tới NLCT quốc gia theo cách tiếp cận của Diễn đàn kinh tế thế giới Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (CGI) – Cách tiếp cận mới của Diễn đàn kinh tế thế giới Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCR) [5] là một báo cáo thường niên do Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum - WEF) thực hiện, xuất bản lần đầu vào năm 1979.
Báo cáo này nghiên cứu và xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Từ năm 2004, Diễn đàn kinh tế thế giới công bố chỉ số NLCT toàn cầu (Global competitiveness Index - GCI) trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu. Chỉ số này đo lường cả các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô ảnh hưởng tới NLCT quốc gia. Chỉ số GCI được xây dựng dựa trên mô hình lý thuyết đơn giản nhưng vững chắc trong khi vẫn đảm bảo khả năng mở rộng nghiên cứu và giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu được thực tế.
Cách tiếp cận về NLCT quốc gia của Diễn đàn kinh tế thế giới tương đồng với quan điểm năng suất của Porter. Theo đó, năng lực cạnh tranh là một tập hợp các yếu tố về thể chế, chính sách và các nhân tố quyết định năng suất của một quốc gia; trên cơ sở tiến bộ về năng suất sẽ xác lập mức độ thịnh vượng mà một nền kinh tế có thể đạt được. Các yếu tố nền tảng của NLCT theo quan điểm của WEF 13 Nền tảng NLCT quốc gia theo quan điểm của WEF là năng suất, trên cơ sở định nghĩa của Porter. Chỉ số GCI thể hiện các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới năng suất.
Khung chỉ số GCI được thiết kế dựa trên cơ sở lý thuyết nhằm tạo ra một khung khổ chung nhưng vẫn phản ánh được điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Theo đó, khung chỉ số GCI có ba nền tảng: (1) Các lợi thế tự nhiên, (2) NLCT vĩ mô và (3) NLCT vi mô. Cách tiếp cận này của WEF hoàn toàn phù hợp với Mô hình các nhân tố nền tảng của NLCT theo quan điểm Porter (xem Hình 1.