Chương 1 sẽ trình bày về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu bao gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể từ đó đề xuất các câu hỏi 6 liên quan, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như sự đóng góp về thực tiễn và khoa học của bài nghiên cứu cũng được tóm tắt trong chương này. Chương 2: Tổng quan lý thuyết về quản lý danh mục cổ phiếu và thuật toán di truyền Chương 2 bắt đầu với việc giới thiệu về khái niệm quản lý danh mục đầu tư và trình bày lý thuyết danh mục Markowitz cùng các khái niệm liên quan. Tiếp theo sẽ trình bày các quy chình chính trong thuật toán di truyền nhằm giải quyết bài toán xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả. Sau đó tác giả điểm sơ lược về tình hình kinh tế và vốn hoá thị trường tại 6 nước đã đề cập trong khu vực Asian.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu Chương này sẽ tập trung mô tả quy trình bài toán bằng các dữ liệu, phương pháp đã đề cập để xử lý dữ liệu và phân tích trên hệ thống dựa trên cơ sở lý thuyết chương 2 nhằm thu được kết quả phù hợp với mục tiêu đề ra. Chương 4: Kết quả thực nghiệm và đánh giá Dựa trên nền tảng lý thuyết và cách sử dụng các đoạn mã tin học đã giới thiệu trong chương 2 và 3, tác giả tiến hành nghiên cứu và khảo nghiệm kết quả thực nghiệm thu được khi đã vận dụng thuật toán di truyền để chọn lọc một danh sách các cổ phiếu gồm các mức phân bổ tỷ trọng đầu tư vào danh mục sao cho lợi nhuận trên mức rủi ro là cao nhất trong khu vực Asian tiềm năng. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương 5 sẽ xem xét và tóm tắt kết quả nghiên cứu chính, bên cạnh đó là giải thích các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra trong bài. Từ đó, đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao và khắc phục được một số ý kiến trái chiều trên thị trường làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Cuối cùng là nêu lên một số hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT QUẢN LÝ DANH MỤC CỔ PHIẾU VÀ THUẬT TOÁN DI TRUYỀN 2. Cơ sở lý thuyết về quản lý danh mục cổ phiếu 2. Định nghĩa danh mục cổ phiếu Danh mục cổ phiếu gồm một nhóm các mã cổ phiếu khác nhau dùng để sinh lời theo tỷ suất sinh lời kỳ vọng.
Lợi nhuận kỳ vọng này có mối liên kết trực tiếp với rủi ro dự kiến có thể xảy ra của toàn danh mục. Hay nói cách khác, đầu tư vào một danh mục cổ phiếu là việc nắm giữ một lượng cổ phần của một hay nhiều công ty khác trên sàn chứng khoán. Việc sắp xếp và chọn lọc cổ phiếu nằm trong danh mục có thể đầu tư phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như số vốn đầu tư, thời gian đầu tư và khả năng chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư. Trong đầu tư chứng khoán, việc cực kỳ quan trọng đối với một nhà đầu tư đó là lựa chọn cổ phiếu.
Đó là quá trình xem xét hai vấn đề là rủi ro và lợi tức của cổ phiếu, ai ai cũng hiểu rằng hai yếu tố trên luôn đồng biến cùng nhau, tức có nghĩa là một cổ phiếu có lợi nhuận cao thường kéo theo rủi ro cao trong khi một cổ phiếu có rủi ro thấp thì lợi nhuận thấp. Đó là một việc đánh đổi giữa việc mạo hiểm và không mạo hiểm trong đầu tư, nếu ta kỳ vọng lợi nhuận cao thì sẽ luôn đồng nghĩa với việc rủi ro cao. Và đối với việc đầu tư, ai cũng mong muốn cổ phiếu mình nắm giữ sẽ có lợi nhuận trong tương lai với một mức độ rủi ro thấp. Do đó bài nghiên cứu sẽ cung cấp một danh mục đầu tư đồng thời xem xét rủi ro và lợi nhuận bằng cách tổng hợp đa dạng nhiều mã cổ phiếu khác nhau trong một danh mục bởi vì nếu ta kết hợp các mã cổ phiếu tốt cùng nhau không những có thể làm hạn chế bớt rủi ro mà còn làm tăng lợi nhuận tổng thể của toàn bộ danh mục cổ phiếu.
Định nghĩa quản lý danh mục cổ phiếu Thực chất, việc quản lý danh mục cổ phiếu nằm trong khái niệm quản lý danh mục đầu tư vì nó bao gồm các loại đầu tư tài sản ngoài cổ phiếu như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, tín phiếu kho bạc, các loại quỹ và chứng chỉ tiền gửi. Do vậy, theo khái niệm được cung cấp trên trang web Investopedia thì quản lý danh mục đầu tư là việc lựa chọn và giám sát một danh mục đầu tư một cách nghệ thuật 8 và khoa học nhằm đáp ứng các mục tiêu tài chính dài hạn và khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng, công ty hoặc tổ chức (Adam Hayes, 2021). Trong lĩnh vực đầu tư thì việc quản lý danh mục nhằm đáp ứng các mục tiêu về tối đa hoá giá trị, hạn chế rủi ro xảy ra, sự cân bằng trong danh mục và số lượng các cổ phiếu phù hợp là rất quan trọng và mang tính thách thức. Hơn nữa, quản lý danh mục đầu tư đòi hỏi về việc cân bằng điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và các mối đe doạ trên toàn bộ các khoản đầu tư.
Điều quan trọng là để tối ưu một danh mục mà chúng ta đang xây dựng thì không chỉ phải xét đến mối quan hệ làm cách nào để tối ưu mà danh mục đó cần phải đơn giản là đáp ứng các mục tiêu đầu tư mà chúng ta đã đặt ra ngay từ ban đầu đó là thiết lập một danh mục với lợi nhuận trên mức rủi ro cao, tức có nghĩa xem xét cả hai khía cạnh là lợi nhuận và cả rủi ro. Nội dung về quản lý danh mục đầu tư 2. Lý thuyết về danh mục Markowitz Một lý thuyết danh mục đầu tư cơ bản không thể không nhắc đến được một nhà kinh tế học Hoa Kỳ đã sáng tác và phát triển là ông Harry Markowitz. Ông đã phát triển một mô hình định lượng, còn được gọi là mô hình phương sai trung bình.
Mô hình này thường được coi là sự tối thiểu hoá của một hàm mục tiêu đại diện cho phương sai danh mục đầu tư, hay còn được gọi là rủi ro của danh mục đầu tư, đi kèm đó là một mức sinh lời nhất định hoặc tối đa hoá một hàm mục tiêu đại diện cho mức lợi nhuận của danh mục đầu tư đối với một mức rủi ro nhất định. Hơn nữa, mô hình này không có bất kỳ ràng buộc nào về việc đầu tư vào một số lượng tài sản khác nhau cũng không hạn chế số tiền đầu tư vào mỗi tài sản (Fernandez và Gomez, 2007). Học thuyết do ông phát triển nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý danh mục đầu tư gồm 2 việc chính đó là kiểm soát rủi ro và đo lường mức độ tương quan giữa các cổ phiếu thông qua việc phân bổ tỷ trọng trong danh mục đầu tư. Chính nhờ lý thuyết của ông đã hỗ trợ một phần nào vào việc xây dựng mô hình danh mục đầu tư đó là xác định được lượng rủi ro có thể xảy ra.
Các khái niệm liên quan tới lý thuyết danh mục ➢ Tỷ suất sinh lời (Rate of Return) Tỷ suất sinh lời là một đại lượng đo lường mức độ lợi nhuận mà nhà đầu tư sẽ có được khi họ bỏ vốn và đầu tư vào một loại tài sản và thu hồi vốn kèm phần tiền lãi khi đầu tư. Giả sử chúng ta nắm giữ cổ phiếu bắt đầu từ thời điểm t đến thời điểm t + Δt, Δt là khoảng thời gian nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu đến lúc có dự định bán hoặc tính toán tỷ suất lợi nhuận. Do vậy ở thời điểm t, ta sẽ có giá cổ phiếu là P(t) và ở thời điểm t + Δt, ta sẽ có giá cổ phiếu là P(t + Δt), và cổ tức nhận được trong suốt thời kỳ là d(t). Vậy tổng tỷ suất sinh lời của chứng khoán là: ➢ Lợi nhuận kỳ vọng (Expected Return) Lợi nhuận kỳ vọng của một tài sản rủi ro là khoảng lợi nhuận mà nhà đầu tư mong đợi nhận được trong tương lai khi thực hiện khoản đầu tư này.
Lợi nhuận kỳ vọng có thể được tính bằng cách gán xác suất cho các khoản lợi nhuận có thể thu được từ khoản đầu tư hoặc sử dụng tỷ suất sinh lời trung bình của lợi nhuận lịch sử. Đối với bài nghiên cứu, tác giả sử dụng công thức tính giá trị trung bình như sau: Trong đó: - Ri là tỷ suất sinh lời của tài sản rủi ro trong trường hợp i - T là tổng số chu kỳ nghiên cứu Best và Grauer (1991) cho rằng lợi nhuận kỳ vọng sẽ có sự biến động rất lớn đến việc tối ưu trong danh mục đầu tư, chỉ cần một sự biến động nhỏ trong giá trị trung bình của một tài sản sẽ tác động đến một nửa số cổ phiếu trong danh mục đầu tư. Do vậy, việc ước tính lợi nhuận kỳ vọng bằng việc tính toán lợi nhuận kỳ vọng của toàn danh mục là một điều cần thiết. Tỷ suất sinh lời kỳ vọng đối với một danh mục đầu tư được tính theo công thức sau: 10 Trong đó: - E(Ri) là lợi nhuận kỳ vọng của tài sản i - wi là tỷ trọng đầu tư tài sản i trong danh mục (điều kiện 0 ≤ wi ≤ 1) ➢ Phương sai và độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời đối với một tài sản Phương sai hay độ lệch chuẩn là một phép đo lường được sử dụng làm công cụ thống kê trong tài chính nhằm đo lường mức biến động của tài sản đó trong quá khứ.
Hay nói cách khác, phương sai là một phương pháp ước lượng chênh lệch của mức tỷ suất sinh lời có thể có Ri so với tỷ suất sinh lời kỳ vọng E(Ri). Đối với cổ phiếu, độ lệch chuẩn càng lớn hay phương sai giữa giá cổ phiếu và giá trị trung bình càng lớn cho thấy mức độ dao động càng rộng (Marshall Hargrave, 2021). Phương sai (Variance) của một tỷ suất sinh lời kỳ vọng đối với một tài sản càng lớn đồng nghĩa với việc mức độ rủi ro của toàn danh mục càng lớn và tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cũng đồng biến với mức độ rủi ro đo lường trên toàn danh mục.