Chương 1. TONG QUAN VE GIAN LAN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHÓNG GIAN LẬN TRONG CÁC GIAO DỊCH THẺ 1. TÌM HIẾU CÁC HÌNH THỨC GIAN LAN THẺ 1. Khái niệm thẻ thanh toán Việc sử dụng tiền mặt dé thanh toán dang trở thành van dé cản trở sự phát triển của thương mại điện tử nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung.
Về phía quản lý nhà nước, thanh toán bằng tiền mặt có những bat lợi như: tăng chi phí xã hội cho các hoạt động thanh toán (in, vận chuyền, bảo quản, kiểm đếm,.); khó kiêm soát, phát hiện được tham nhũng; rửa tiền, trốn thuế, vấn nạn tiền giả. Vì vậy các chính phủ đã khuyến khích và dần luật hóa việc TTKDTM. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như thanh toán trực tuyến, thanh toán chuyển khoản, thanh toán quẹt thẻ, thanh toán bằng ví điện tử,.là hình thức thanh toán trích chuyền vốn trên tài khoản từ tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng, hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng và các tô chức tài chính khác. Không chỉ có vai trò đối với các cơ quan quản lý nền kinh tế, TTKDTM còn có vai trò to lớn đối với người tiêu dùng vì tạo điều kiện cho quá trình thanh toán được tiến hành nhanh chóng, không phụ thuộc vào thời gian, khoảng cách địa lý, từ đó góp phần thúc đây và lưu thông hàng hóa [7].
Ngày 22/11/2012, nhà nước Việt Nam đã ra nghị định số 101/2012/NĐ-CP về việc TTKDTM nhằm quy định về hoạt động này, bao gồm: mở và sử dụng tài khoản thanh toán; dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt; dịch vụ trung gian thanh toán; tổ chức, quản lý và giám sát các hệ thống thanh toán. Sau đó, ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 46/2014/TT - NHNN, ngày 31/12/2014 về việc hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. TTKDTM còn có thé được hiểu là cách thức thanh toán trong đó không có sự xuất hiện của tiền mặt mà việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyền trên các tài khoản của các chủ thể liên quan đến số tiền phải thanh toán. Hoặc TTKDTM là phương thức thanh toán không trực tiếp dùng tiền mặt mà dựa vào các chứng từ hợp pháp như giấy nhờ thu, giấy ủy nhiệm chi, séc.
dé trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của tổ chức, đơn vị, cá nhân này sang tài khoản của tổ chức, đơn in vị, cá nhân khác thông qua hệ thống ngân hàng. Thẻ thanh toán (thẻ chỉ trả) có thé hiéu là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. Hoặc là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi ngân hàng, các tô chức tài chính hay các công ty. Cũng có thể hiểu là một phương tiện TTKDTM mà người chủ thẻ có thé sử dụng dé rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.
Cụ thể hơn thẻ thanh toán là phương thức ghi số những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thông mang máy tính kết nối giữa ngân hang/t6 chức tài chính với các điểm thanh toán. Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. Tóm lại tính chất của thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thé ding để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động. Phân loại thẻ thanh toán Thẻ thanh toán có thé được phân loại theo công nghệ sản xuất, theo chủ thé phát hành, theo tính chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thô.
Theo công nghệ sản xuất Có 3 loại thẻ thanh toán theo công nghệ sản xuất, bao gồm: Thứ nhất, thẻ khắc chữ nồi (Embossing Card) là loại thẻ dựa trên công nghệ khắc chữ nồi. Hiện nay, trên thị trường không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dé bị giả mạo. Thứ hai, thẻ băng từ (Magnetic Stripe) là loại thẻ dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ. Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua, nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin.
Thứ ba, thẻ thông minh (Smart Card) là loại thẻ thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính trong đó ngoài những thông tin về mã thẻ, số tiền còn có thêm những thông tin của cá nhân chủ thẻ như địa chỉ, số điện thoại, nhóm máu, bệnh mãn tinh. Theo tính chất thanh toán của thé Theo tính chất thanh toán của thẻ, thì thẻ thanh toán được chia làm 3 loại sau: Thứ nhất, thẻ tín dụng (Credit Card) là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hang hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay,. chấp nhận loại thẻ này. Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định.
Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (Delayed Debit Card) hay chậm trả. Thứ hai, thẻ ghi ng (Debit Card) đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi đợc sử dụng dé mua hàng hoá hay dich vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn. đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn.
Thẻ ghi nợ còn được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ. Có hai loại thẻ ghỉ nợ cơ bản: - Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ. - Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.
Thứ ba, thẻ rút tiền mặt (Cash Card) là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ngân hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng đê rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi vào tài khoản ngân hang hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chỉ mới được sử dụng. Thẻ này có hai loại: - Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của ngân hàng phát hành. - Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng dé rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tô chức thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ hoặc ở những POS như nhà hàng, siêu thị.
Theo phạm vi lãnh thổ Nếu phân loại theo phạm vi lãnh thể thì có thể chia làm 02 loại thẻ dưới đây: 13 Thứ nhất, thẻ trong nước là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó. Thứ hai, thẻ quốc tế đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thé giới, sử dụng các ngoại tệ mạnh dé thanh toán. Theo chú thé phát hành Sẽ có 02 loại thẻ thanh toán nếu như được chia theo chủ thé phát hành: Thứ nhất, thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card) là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Thứ hai, thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn.
phát hành như Diner's Club, Amex. Ưu điểm khi sử dụng thé thanh toán Không thể phủ nhận những ưu điểm khi sử dụng thẻ thanh toán thay cho việc dùng tiền mặt. Từ khi ra đời cho đến nay, hình thức thanh toán qua thẻ đã khẳng định được vai trò của mình trong việc đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng khắt khe của khách hàng, tạo niềm tin, uy tín với khách hàng, đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng, thúc đây phát triển thương mại cũng như nền kinh tế của đất nước và phù hợp với xu thế toàn cầu trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ nhất, thẻ thanh toán cho phép khách hàng tiếp cận với số dư trong tai khoản của mình thông qua hệ thống kết nối trực tuyến dé thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy ATM.
Hiện nay, các tổ chức đã chủ động kết nói hệ thống ATM với nhau tạo nên một mạng ATM khu vực. Hiện nay tất cả các máy ATM của tất cả các ngân hàng đã kết nói với nhau, cho phép khách hàng có thé rút tiền ở bat cứ máy ATM nào. Việc ra đời phương thức thanh toán điện tử là nhằm giảm áp lực việc lưu thông tiền mặt trên thị trường. Với phương thức thanh toán điện tử, các giao dịch được giải quyết qua hệ thống ngân hàng thông qua hình thức chuyển khoản, qua đó giúp mọi người tiết kiệm được về thời gian, chỉ phí đi lại.
Trước kia, các dịch vụ ngân hàng chủ yếu được giao dịch trực tiếp tại ngân hàng. Sau khi thẻ thanh toán ra đời, các hoạt động ngân hàng truyền thống được chuyển hoá dần thành chức năng của thẻ. Theo số liệu thống kê, cả nước có khoảng 20 ngân hàng phát hành thẻ; 14 14.000 điểm chấp nhận thẻ và 3,5 triệu thẻ thanh toán. Tốc độ phát triển nhanh trong một thời gian ngắn của thị trường thẻ tại Việt Nam kèm theo sự phô cập ngày càng rộng rãi của mạng internet dự kiến sẽ góp phần làm giảm tối đa lượng tiền mặt trong lưu thông.