CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NGÂN QUỸ VÀ MÔ HÌNH QUẢN TRỊ NGÂN QUỸ TẠI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. Quản trị ngân quỹ tại doanh nghiệp bảo hiểm 1. Khái niệm Khái niệm về quản trị ngân quỹ đã được Karen (2006) định nghĩa như sau: “Ngân quỹ là duy nhất trong một tổ chức. Nó là nguồn gốc của nhiều rủi ro mà một tổ chức phải đối mặt, bao gồm rủi ro tài chính, tín dụng và hoạt động.
Tuy nhiên, ngân quỹ cũng tham gia tích cực vào việc quản lý tài chính đối với tài sản của tổ chức và điều này bao gồm các hoạt động quản lý rủi ro”. Trong khi đó, San José và các cộng sự (2008) lại cho rằng: “Quản trị tiền mặt có thể được nhìn nhận từ hai quan điểm khác nhau tùy thuộc vào số lượng trách nhiệm mà nó bao gồm: quản trị ngân quỹ (hoặc quản trị tiền mặt cơ bản) và quản trị tiền mặt nâng cao. Cụ thể, quản trị ngân quỹ xử lý việc quản trị tiền mặt thực tế tại các công ty và một trong những chức năng chính của nó là thiết lập mức tiền mặt tối ưu để có thể thực hiện và nhận các khoản thanh toán khi cần thiết cho hoạt động đúng đắn của công ty”. Có thể thấy, khái niệm thứ hai không chỉ bao gồm quản trị ngân quỹ mà còn bao gồm các nhiệm vụ khác như dự báo ngân quỹ, đàm phán và thiết lập mối quan hệ với các tổ chức tài chính và quản lý rủi ro tài chính.
Như vậy, quản trị ngân quỹ có thể hiểu là quá trình quản trị các nguồn tài chính của một tổ chức, doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu mà chiến lược kinh doanh đã đưa ra. Trong đó, các nghiệp vụ quan trọng được đề cập như: quản lý tiền mặt, quản lý quỹ và đầu tư, tài trợ thương mại, quản lý rủi ro và quản lý vốn lưu động. Vai trò quản trị ngân quỹ Theo Karen A. Horcher (2006), “Vai trò của ngân quỹ trong việc quản lý tài sản gắn liền với quản trị doanh nghiệp.
Ngân quỹ có chức năng thực hiện các quyết định chiến lược của ban giám đốc và ban giám đốc, thay mặt cho các bên liên quan của một tổ chức. Việc quản trị ngân quỹ liên quan đến các quyết định chiến lược tác động đến cách thức mà một tổ chức sẽ đạt được các mục tiêu của mình”. h 10 Như vậy, vai trò như trên khá rộng nhưng có thể cụ thể bao gồm: - Cải thiện dòng tiền: quản trị ngân quỹ có thể giúp cải thiện dòng tiền của một tổ chức bằng cách đảm bảo rằng các quỹ đang được sử dụng hiệu quả và các nghĩa vụ ngắn hạn đang được đáp ứng. - Giảm thiểu rủi ro: quản trị ngân quỹ cũng có thể giúp giảm rủi ro bằng cách quản lý cẩn thận khả năng rủi ro ngoại hối và lãi suất của tổ chức.
- Nâng cao khả năng sinh lời: bằng cách giảm rủi ro và cải thiện dòng tiền, quản trị ngân quỹ có thể giúp tăng khả năng sinh lời của tổ chức. - Nâng cao khả năng ra quyết định: quản trị ngân quỹ cung cấp thông tin chính xác và cập nhật về các nguồn tài chính của tổ chức, có thể giúp những người ra quyết định đưa ra lựa chọn tốt hơn về cách phân bổ các nguồn đó. - Nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí: khi quản trị ngân quỹ được thực hiện tốt, nhiều quy trình thủ công sẽ được tự động hóa và ít sai sót hơn. Do đó, khi ứng dụng mô hình có thể tăng đáng kể hiệu quả và tiết kiệm chi phí.
Phân loại doanh nghiệp bảo hiểm Bảo hiểm là phương thức bảo vệ trước những tổn thất tài chính, phòng tránh rủi ro dựa vào nguyên lý “sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”, như vậy càng nhiều người tham gia đóng phí bảo hiểm sẽ tạo thành một quỹ chung, quỹ này sẽ được sử dụng để chi trả nếu một trong số người những người tham gia đóng phí bị tổn thất sẽ được đền bù bằng số tiền lấy từ quỹ này. Có thể thấy, sự kiện rủi ro của một số ít người sẽ được đồng thời gánh chịu bởi một cộng đồng người tham gia đóng phí. Tính đến hết năm 2021, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 76 doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm (bao gồm 31 công ty TNHH 1 thành viên, 11 công ty TNHH 2 thành viên trở lên, 33 công ty cổ phần và 01 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tại Việt Nam) và 01 công ty cổ phần (môi giới bảo hiểm) đã dừng hoạt động, đang hoàn tất thủ tục giải thể. Lĩnh vực bảo hiểm được phân loại thành hai lĩnh vực đó là: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ.
Năm 2021, thị trường bảo hiểm tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với tăng trưởng h 11 GDP, doanh thu toàn ngành đạt 255.876 tỷ đồng, trong đó doanh thu phí bảo hiểm đạt 218.357 tỷ đồng, doanh thu hoạt động đầu tư đạt 37.519 tỷ đồng, doanh thu và thị phần bảo hiểm xem bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.1: Doanh thu phí bảo hiểm và thị phần theo lĩnh vực giai đoạn 2020 – 2021 Các chỉ tiêu Đơn vị Phi nhân thọ Nhân thọ Toàn thị trường 2020 2021 2020 2021 2020 2021 Doanh thu phí Tỷ bảo hiểm đồng 56.357 Tốc độ tăng % 6,20 4,34 22,42 21,76 17,02 16,49 trưởng Tỷ trọng % 30,24 27,08 69,76 72,92 100 100 phí/tổng phí Tỷ trọng % 0,90 0,92 2,08 2,47 2,98 3,38 phí/GDP Nguồn: Tổng hợp từ nguồn Bộ tài chính năm 2020-2021 Bảo hiểm nhân thọ bao gồm: các sản phẩm bảo hiểm liên quan đến cuộc sống, sinh mạng của con người, các sản phẩm thường dài hạn nhiều năm, gắn với việc tiết kiệm, liên kết đầu tư. Đối với bảo hiểm phi nhân thọ gồm các sản phẩm bảo hiểm mà bảo hiểm nhân thọ không khai thác. Thời gian gần đây xuất hiện sự kết hợp bảo hiểm của hai loại hình nhân thọ và phi nhân thọ thành các sản phẩm bảo hiểm mới (DNBH cùng hợp tác để bán chéo sản phẩm) đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng muốn tìm hiểu và mua bảo hiểm. Bảo hiểm phi nhân thọ có thể giúp tác giả nhìn thấy rõ bản chất, cũng như nguyên tắc so với bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm phi nhân thọ: Có trách nhiệm chi trả số tiền bảo hiểm đã cam kết theo hợp đồng khi sự kiện rủi ro xảy ra trong thời gian hợp đồng có hiệu lực; Tùy theo các sản phẩm bảo hiểm mà khách hàng lựa chọn, trong đó khách hàng chỉ cần đóng một khoản phí rất nhỏ so với số tiền mà DNBH cam kết trong hợp đồng và sẽ thực hiện chi trả nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra; hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ có thời gian h 12 ngắn như các sản phẩm bảo hiểm vi mô tính theo phút, còn lại các sản phẩm khác thường là một năm. Bảo hiểm phi nhân thọ gồm rất nhiều loại hình bảo hiểm khác tuy nhiên có thể chia thành các nhóm bảo hiểm căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm như: - Bảo hiểm tài sản: đối tượng bảo hiểm là các loại tài sản được bảo hiểm như bị trong như hỏng hay mất mát. DNBH sẽ phải thực hiện bồi thường cho chủ sở hữu tài sản nếu sự kiện tổn thất xảy ra trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Các sản phẩm bảo hiểm thuộc nhóm này gồm: Xe cơ giới, hàng hoá vận chuyển, tàu biển, hàng không, dầu khí, hoả hoạn, rủi ro đặc biệt và các sản phẩm vi mô đã được đưa vào triển khai.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: là trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do người tham gia báo hiểm gây ra cho bên thứ ba. Các sản phẩm thuộc phạm vi bảo hiểm này gồm: trách nhiệm chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm dân sự chủ tàu, trách nhiệm sản phẩm… - Bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người: là những sản phẩm bảo hiểm liên quan đến các rủi ro về sức khoẻ con người. Nhóm này gồm có: sinh mạng cá nhân, tai nạn hành khách, tai nạn học sinh, tai nạn khách du lịch… Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển do đó bảo hiểm phi nhân thọ càng có cơ hội khai thác trong mọi lĩnh vực, hơn nữa bảo hiểm còn nắm vai trò quan trọng để phòng ngừa và hạn chế các sự kiện rủi ro trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo hiểm phi nhân thọ là một trong những lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia triển.
Dự kiến tính đến hết năm 2021 thị trưởng này tăng trưởng hàng năm với tỷ trọng 2,5% đến 10% xem hình 1.1: Doanh thu phí bảo hiểm năm 2020 và dự kiến cả năm 2021 Nguồn: Swiss Re (2021), Ngành bảo hiểm thế giới: Tăng tốc độ hồi phục 1. Sự cần thiết quản trị ngân quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm Ngân quỹ là tài sản không tự tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy, mục tiêu của quản trị ngân quỹ là xác định được ngân quỹ tối ưu. Tuy nhiên, doanh nghiệp tại bất kỳ thời điểm nào cũng phải duy trì một lượng ngân quỹ nhất định.
Theo “Lý thuyết tổng quát về lãi suất, tiền tệ và lao động” (KEYNES, J., 1935) đã chỉ ra các động cơ chính liên quan đó là: giao dịch, đầu cơ và dự phòng. Đối với DNBH các động cơ có thể được quan tâm xem xét như: - Động cơ giao dịch: DNBH luôn luôn phải duy trì một lượng ngân quỹ để có thể đáp ứng nhu cầu thường xuyên gồm: chi trả tiền bồi thường, hoa hồng, tiền lương, thuế, cổ tức, diễn ra xuyên suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Động cơ dự phòng: DNBH cần duy trì lượng ngân quỹ theo quy định của pháp luận cụ thể Luật kinh doanh bảo hiểm; Nghị định 73/2016/NĐ-CP; Thông tư 52/2017/TT-BTC. Trong đó các nghiệp vụ dự phòng gồm: Dự phòng phí chưa được hưởng; Dự phòng bồi thường; Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất nhằm để đáp ứng đúng cam kết khi có các sự kiện hay biến cố xảy ra.
h 14 - Động cơ đầu cơ: DNBH với mục tiêu đảm bảo ít rủi ro nhất đối với tất các khoản đầu tư, dẫn đến DNBH gần như không quan đến động cơ này, căn cứ theo chuyên gia của BHBV hiện nay khoảng 70% lượng ngân quỹ của BHBV thông qua BVFMC đầu tư bằng các hợp đồng ủy thác, và tiền gửi. Còn lại khoảng 30% phục vụ cho các mục đích liên quan khác trong công tác điều hành kinh doanh hàng ngày.