CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu và úng dụng mạng TKNT Các công nghộ mới trong kỹ thuật, vật lý, đặc biệt là vật lý khí quyển, sinh học. đã làm nảy sinh một loạt các vấn đề phi tuyến, bất ổn định và phức tạp. Để giải được các bài toán đó đòi hỏi phải có các công cụ xử lý, tính toán phi tuyến, trong số các công cụ đó, mạng thần kinh nhân tạo (TKNT) tỏ ra có ưu thế vượt trội. Mạng TKNT đáp ứng được nhu cầu vì nó được luyện trên các mẫu, sử dụng các công cụ thống kê và giả thuyết tối ưu.
Có nhiều loại mạng TKNT khác nhau, trong đó có mạng truy hồi, mạng nhận thức đa lớp và mạng thời gian trễ. Việc sử dụng mạng truy hồi như một công cụ dự báo ngày càng thể hiộn nhiều ưu điểm trên nhiều lĩnh vực nhờ vào khả năng liên kết giữa các lớp, các phần tử hoạt động1trong mạng. Quá trình phát triển của mạng TKNT trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, được đánh dấu bằng các mốc quan trọng: những năm 40 của thế kỷ 20 đánh dấu những phát triển đỉnh cao đầu tiên với các nghiên cứu của McCulloch và Pitts (1943); nhưng mãi đến năm 1949, Hebb đưa ra thuật toán học đầu tiên của mạng, gọi là thuật toán Hebb, mạng TKNT chính thức ra đời và khẳng định khả năng tính toán trong các bài toán phi tuyến. Dấu mốc thứ hai xuất hiện những năm 60 với giả thuyết hội tụ của mạng nhận thức của Rosenbatt (1960), thành công đầu tiên trong lĩnh vực mạng TKNT là nơron thích ứng tuyến tính — ADALINE2 và nơron thích ứng tuyến tính da biến - MADALINE3 do Widrow và Hoff (1960) phát triển; sau đó, Minsky cùng Papert chỉ ra hạn chế của mạng nhận thức đơn giản (1969).
Kết quả của Minsky và Papert đã ỉàm thất vọng nhiều nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học trong ngành khoa học tính toán lúc bấy giờ. Chính những công bố này đã làm chậm tiến trình phát triển của mạng TKNT gần 20 năm. Mãi đến những năm 80, mạng TKNT mói có được những thành tựu đáng chú ý mới. Đó là công trình của Hopfield [16] với cách tiếp cận dưới khía cạnh năng lượng và thuật toán học lan truyền ngược cho mạng nhận thức đa lớp.
Nhiều người nhắc đến công trình này của 1Processing Elements 2 ADAptive Linear Neuron 3 Multiple ADALINE 4 Hopfield như một sự khởi đẩu thứ hai cho mạng TKNT. Sau đó công trình được tiếp tục phát triển và công bố rộng rãi năm 1986 trong bài viết của Rumelhart và cộng sự. Từ đó đến nay, cùng vói sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, cộng đồng người sử dụng mạng TKNT tăng lên đáng kể và được mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Trong khí tượng học, đã có nhiều nhà khí tượng học trên thế giới và Việt Nam sử dụng mạng TKNT như những công cụ thống kê cho các bài toán phức tạp giúp hiệu chỉnh sản phẩm mô hình số, tái tạo và bổ xung số liệu, tính toán tổng lượng ozon trong khí quyển.
Do tính đa dạng của các loại mạng khác nhau nên rất khó cho việc phân loại mạng, nhưng trong đề tài này, tôi cũng cố gắng đưa ra một cách phân loại phổ biến nhất mà đã được nhiều tác giả trình bày. Sự phân ỉoại ở đây chỉ áp dụng cho các thuật toán và các phương pháp học phổ biến được dùng trong mạng TKNT, có thể còn nhiều thuật toán cũng như phương pháp khác nhưng do không được sử dụng rộng rãi nên cũng không được đưa vào phân loại trong đề tài này. Bảng 1: Phân loại mạng TKNT và ứng dụng [21] Úng dụng Thuật toán Học có điều kiện Học không điều kiện Hopfield (Zurada, 1992; Haykin, Hebbian (Zuruda, 1992; 1994) Haykin, 1994; Kung, Phát hiện 1993) mối liên hệ Nhận thức đa lớp (Zuruda, 1992; Lan truyền ngược Carling, 1992; Haykin, 1994; (Zuruda, 1992; Haykin, - Bishop, 1995; Patterson, 1996) 1994; Bishop, 1995;) Nhận thức đa lớp (Zuruda, 1992; Lan truyền ngược Carling, 1992; Haykin, 1994; Phân loại, Bishop, 1995) nhận dạng Các hàm xuyên tâm cơ sở (Zuruda, Bình phương tối thiểu Trung bình k phần tử 1992; Bishop, 1995) (Bishop, 1995) 5 Bảng 1: Phân loại mạng TKNT và ứng dụng (tiếp) Nhân tố cạnh tranh (Zurada, 1992; Nhân tố cạnh tranh Haykin, 1994) (competitive) Kohenen (Zurada, 1992; Haykin, Kohenen Phân tích 1994) dặc trưng Nhận thức đa lớp (Kung, 1993) Lan truyền ngược Phân tích thành phẩn dặc tnmg Thuật toán Oja (Zurada, (Zurada, 1992; Kung, 1993) 1992; Kung, 1993) Mạng thời gian trễ (Zurada, 1992; Lan truyền ngược theo Kung, 1993, de Vries và Principe, thời gian (BPTT) Dự báo 1992) Mạng truy hồi toàn phẩn (Zurada, 1992) Tính đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng mạng TKNT được công bố trên các tạp chí, gần đây nhất là vào tháng 4 năm 2006, Ricardo A. Guarnieri cùng đồng nghiệp [25] đã sử dụng mạng TKNT hiệu chỉnh dự báo tổng xạ của mô hình khí hậu khu vực Êta, trước đó, vào tháng 1 năm 2000, David Silverman và John A.
Dracup [11] đã dùng mạng TKNT dự báo mưa ở khu vực California, năm 2002, luận văn Thạc sỹ của Bin Li [7] (Đại học Georgia, Hy Lạp) đã sử dụng mạng TKNT là công cụ nội suy trường khí tượng về trạm thay cho các phương pháp nội suy truyền thống. và nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về lĩnh vực mạng TKNT đáng chú ý khác như các công trình của Danilo p. Medeiros và đồng nghiệp [20], Pattĩick van der Smagt và Ben Krose [21] và s. Còn ở Việt Nam, các tác giả Lê Xuân Cầu [1] đã ứng dụng mạng TKNT dự báo lũ trong thủy văn, tác giả Nguyễn Hưóng Điền và cộng sự cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng mạng TKNT trong dự báo khí tượng thủy văn [3, 4].
Tất cả các công trình trên đều có chung kết luận: Mạng TKNT đã cải thiện đáng kể kết quả dự báo so với các phương pháp khác. Các đặc trưng vật lý cơ bản của bức xạ a. Bản chất của bức xạ Năng lượng được truyền từ nơi này đến khác dưới 3 dạng: quá trình truyền dẫn liên quan đến vận chuyển năng lượng động lượng của nguyên tử và phân tử (thường biểu hiện dưới dạng nhiệt). Do đó, nếu một đầu của thanh kim loại bị đốt nóng thì phân tử kim loại ở đó sẽ chuyển động nhanh hơn, va chạm với các phân tử khác và truyền động lượng cho chúng.
Đến lượt nó, các phân tử này lại truyền động lượng đó cho các phân tử xung quanh; và kết quả là nhiệt lượng được truyền đến đầu thanh kỉm loại bên kia. Nãng lượng cũng có thể được vận chuyển thông qua sự vận chuyển vật lý của vật chất. Trong chất khí và chất lỏng, sự vận chuyển năng lượng này được biết đến là quá trình đối lưu. Theo nghĩa rộng của từ đối lưu nó không chỉ bao gồm vận chuyển năng lượng theo chiều thẳng đúng khi lớp không khí hoặc chất lỏng bên dưới bị đốt nóng mà nó còn là sự khuyếch tán rối và bình lưu nhiệt theo mọi hướng.
Và cuối cùng, năng lượng còn có thể được truyền từ vật thể này sang vật thể khác nhờ các sóng điện từ có hoặc không có sự tồn tại của một phương tiện vật lý trung gian, thông qua quá trình bức xạ. Năng lượng điện từ lan truyền theo đường thẳng và với một vận tốc không đổi trong chân không.00xl010 cm/s Bức xạ được đặc trưng bởi bước sóng, X, là khoảng cách giữa hai đỉnh sóng liên tiếp; hoặc bởi tần số, V, là sô đỉnh sóng đi qua một điểm cố định trong một đơn vị thời gian.V = c Chi tiết về các loại sóng và bưóc sóng trong không gian xem bảng 2. Bức xạ mặt trời Mặt trời là một ngôi sao (định tinh) gần chúng ta nhất. Nó là một quả cầu lửa khổng lồ, có đường kính khoảng 1 390 600 km (gấp 109 lần đường kính trái đất), thể tích l,41.10l8km3, khối lượng khoảng l.
Trái đất quay xung quanh mặt trời theo một quĩ đạo elíp gần tròn (mặt trời ở một 7 tiêu điểm) mà khoảng cách ngắn nhất từ mặt trời đến trái đất là 147 triệu km (ngày 3 tháng 1) khoảng cách xa nhất là 152 triệu km (ngày 5 tháng 7), khoảng cách trung bình là 149,5 triộu km (ánh sáng truyền mất hơn 8 phút). Mặt trời bức xạ liên tục lượng bức xạ khổng lổ ra xung quanh. Lượng bức xạ mặt trời lớn tới mức có thể làm tan và bốc thành hơi một vỏ nước đá đầy 12m bọc quanh nó trong vòng 1 phút. Tuy nhiên, khí quyển trái đất chỉ hứng được một phẩn 2 tỷ lượng bức xạ của mặt trời.
Tuy vậy, lượng bức xạ này cũng rất lớn, vào khoảng 1,5. Bức xạ mặt ười trên đường tới trái đất bị nhiều tác dụng làm suy yếu cho nẽn phổ bức xạ mặt trời mà ta quan trắc được trên trái đất không giống như phổ bức xạ tại gốc của mặt trời. Người ta thấy phổ bức xạ điện từ của mặt trời rất rộng, từ tia Gamma đến sóng vô tuyến. Bảng 2: Các loại bức xạ và bước sóng trong không gian Loại bức xạ Bước sóng Tia y có bước sóng trong chân không X < 10'5Jim Tia Rơnghen (X) 10'5< X< 10’2 |im Tia cực tím 10‘2< A,<0,38 um Ánh sáng nhìn thấy 0,38 < x < 0,76 |am Tia hồng ngoại 0,76 < A.< 3000 |im Sóng vô tuyến có X > 3000 jam Nhũng kết luận về bức xạ của mặt trời có thể chỉ ra là: - Phổ bức xạ mặt trời tương tự như của vật đen tuyệt đối.
Nếu chúng ta đo tổng năng lượng nhận được từ mặt trời tói một đơn vị diện tích trong một đơn vị thòi gian và tính toán nhiệt độ của vật đen theo định luật Stefan-Boltzmann ứng với tổng năng lượng đó thì ta nhận được nhiệt độ của mặt trời là 5750°K. Mặt khác, chúng ta cũng có thể do bức xạ như là một hàm của bước sóng, ứng với năng lượng phát xạ cực đại, và tính toán nhiệt độ vật đen từ định luật Wienl. Bức xạ cực đại là 0.4740nm, tương ứng với nhiệt độ 6108°K. Hiển nhiên mặt trời không phải là vật đen tuyệt đối vì hai nhiệt độ này không thống nhất với nhau.
Sự khác biệt này là do sự hấp thụ sóng ngắn của lớp “khí” phía ngoài mặt trời (sự hấp thụ này không ảnh 8 hưởng đến phát xạ cực đại - 0.4740|im nhưng lại ảnh hưởng đến năng lượng rọi tới trái đất). Tuy nhiên, gần đúng vật đen tuyệt đối của mặt trctí là thích hợp cho rất nhiều mục đích khác nhau. - Cường độ phát xạ năng lượng của mặt trời là rất ổn định: Những đo đạc về độ rọi của bức xạ mặt trời đã được s. Langley và đặc biột là c.