CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Xác suất không trả được nợ (PD) và đo lường PD theo Basel II 1. Hiệp ước Basel II và tác động của nó tới thực hành quản lý rủi ro tín dụng 1.
Giới thiệu về hiệp ước Basel II Sau hàng loạt vụ sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã tập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sĩ vào năm 1987 tìm cách ngăn chặn xu hướng này. Nhóm các Ngân hàng Trung ương này đã thành lập Ủy ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng. Năm 1988, Công ước Basel I ra đời nhằm mục đích củng cố sự ổn định của hệ thống các ngân hàng quốc tế và thiết lập hệ thống ngân hàng quốc tế bình đẳng cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động. Tuy nhiên, thị trường tài chính ngày càng trở nên phức tạp trong đó hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro.
Công ước Basel I xuất hiện hạn chế khi thiếu sự phân biệt rủi ro giữa khách hàng có mức xếp hạng khác nhau. Đồng thời, Basel I đề cập sơ sài đến rủi ro hoạt động và không yêu cầu trích lập dự phòng đối với loại rủi ro này, trong khi đó rủi ro này ngày càng tăng lên và có nguy cơ xảy ra tổn thất lớn. Chính vì thế, tháng 06/2006 Công ước mới Basel II ra đời để khắc phục các hạn chế của Công ước Basel I. Sự khác biệt lớn nhất của Basel II so với Basel I được thể hiện ở việc cấu trúc của Basel II tập trung vào định lượng rủi ro cho các mục đích phân bổ vốn.
Theo đó, Basel II hướng tới 03 mục đích chính sau đây: - Đảm bảo vốn phân bổ theo hướng nhạy cảm rủi ro. - Phân biệt rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng, đồng thời định lượng 02 loại rủi ro này. - Thu hẹp khoảng cách giữa vốn theo quy định và vốn kinh tế. Công ước Basel II được xây dựng dựa trên 03 trụ cột chính bao gồm (i) Trụ cột 1 – Yêu cầu vốn tối thiểu, (ii) Trụ cột 2 – Yêu cầu về quy trình, thanh tra giám sát ngân hàng và (iii) Trụ cột 3 – Yêu cầu quy trình quản lý rủi ro tuân thủ nguyên 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tắc thị trường.
Tất cả trụ cột đều có ý nghĩa rất quan trọng và hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đạt mục tiêu của Basel II đã đề ra. Nội dung tóm tắt của Basel II về rủi ro tín dụng Để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng và dự phòng đầy đủ cho các rủi ro tín dụng, thị trường và tác nghiệp, Hiệp ước Basel II quy định, số vốn tự có của ngân hàng tối thiểu phải đạt 8% tổng tài sản “Có” rủi ro (được xác định bằng cách nhân số vốn cần thiết cho rủi ro thị trường và tác nghiệp với 12.5, sau đó cộng với tổng tài sản “Có” rủi ro tín dụng), trong đó, tổng tài sản “Có” rủi ro tín dụng được tính toán theo “phương pháp tiêu chuẩn hóa” hoặc “phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ” như sau: a) Phương pháp tiêu chuẩn hóa Theo phương pháp này, tổng tài sản “Có” rủi ro tín dụng được xác định dựa trên nguyên tắc sau: Tổng tài sản “Có” rủi ro = Tài sản “Có” * Hệ số rủi ro (1) Để tính toán tổng tài sản “Có” rủi ro (không bao gồm dự phòng cụ thể), về cơ bản, ngân hàng cần thực hiện các bước công việc sau: Bước 1: Phân nhóm và xác định giá trị tài sản “Có” (giá trị các khoản cho vay, phải đòi) theo: (a) chiều dọc - loại khách hàng, bao gồm: Chính phủ, cơ quan nhà nước khác, ngân hàng phát triển đa quốc gia, ngân hàng, các công ty chứng khoán, doanh nghiệp, cá nhân, tài sản khác, các khoản ngoại bảng (b) chiều ngang: hạng tín nhiệm của các khoản cho vay, phải đòi. Bước 2: Điều chỉnh giá trị tài sản “Có” theo giá trị tài sản bảo đảm là tài sản tài chính (tiền mặt, vàng, giấy tờ có giá…) cầm cố cho khoản cho vay, phải đòi đó để xác định giá trị tài sản “Có” ròng. Bước 3: Xác định hệ số rủi ro cụ thể cho các khoản cho vay, phải đòi căn cứ vào nhóm và hạng tín nhiệm của các khoản phải đòi, cho vay.
Bước 4: Tính toán tổng giá trị tài sản “Có” rủi ro tín dụng theo công thức (1) nêu trên. Phương pháp này sở dĩ được gọi là phương pháp tiêu chuẩn hóa vì toàn bộ các thước đo rủi ro đều được quy định cụ thể, chặt chẽ tại Basel II. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b) Phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB) Khác với phương pháp tiêu chuẩn hóa, khi được phép sử dụng IRB, ngân hàng có thể tự ước lượng giá trị của một số (trường hợp áp dụng IRB cơ bản) hoặc toàn bộ (trường hợp sử dụng IRB tiên tiến) các thước đo rủi ro để tính giá trị tài sản “Có” rủi ro tín dụng và thực hiện các điều chỉnh về vốn tự có. Để đáp ứng quy định tính vốn tối thiểu theo IRB, ngân hàng cần thực hiện hai nội dung công việc chính sau: (i) xác định giá trị tài sản “Có” rủi ro tín dụng.
Giá trị này sẽ là căn cứ để tính ra lượng vốn tự có tối thiểu mà ngân hàng cần duy trì để bù đắp cho giá trị tổn thất ngoài dự kiến (UL) của khoản vay khi khách hàng không trả được nợ; (ii) điều chỉnh trực tiếp vốn tự có dựa trên phần chênh lệch giữa giá trị tổn thất dự kiến (EL) khi khách hàng không trả được nợ và tổng dự phòng rủi ro tín dụng. Cụ thể: Xác định giá trị tài sản “Có” rủi ro tín dụng Bước 1: Phân loại tài sản “Có” theo các nhóm khách hàng và tài sản: (a) doanh nghiệp; (b) chính phủ hoặc cơ quan nhà nước khác; (c) ngân hàng; (d) bán lẻ; (e) vốn góp (của ngân hàng tại doanh nghiệp khác). Bước 2: Xác định giá trị của các cấu phần rủi ro, bao gồm: PD – xác suất không trả được nợ của khách hàng, LGD - mức tổn thất nếu khách hàng không trả được nợ (tính theo từng hợp đồng); EAD - tổng số tiền cho vay, phải đòi (bao gồm dự phòng cụ thể); M - kỳ hạn hiệu quả, cho từng khách hàng (đối với trường hợp các nhóm khách hàng doanh nghiệp, chính phủ, ngân hàng) hoặc cả nhóm khách hàng (đối với nhóm khách hàng bán lẻ). Tương tự phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn hóa, ngân hàng có thể ghi nhận tác động giảm thiểu rủi ro của các tài sản bảo đảm bằng cách điều chỉnh ghi giảm giá trị rủi ro LGD hoặc EAD.
Tuy nhiên, để tránh trùng lặp, việc điều chỉnh giá trị rủi ro chỉ được thực hiện một lần, hoặc với LGD hoặc với EAD. Bước 3: Tính toán giá trị tài sản “Có” rủi ro theo công thức mà Basel II quy định (các nhóm khách hàng khác nhau áp dụng các công thức khác nhau). Ví dụ: Công thức tính giá trị tài sản “Có” rủi ro tín dụng áp dụng cho nhóm tài sản doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng là: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đối với các khoản nợ bình thường: Hệ số tương quan (R) = 0.5) x b) Tài sản “Có” rủi ro = K x 12. Tương tự các khoản nợ bình thường, giá trị tài sản “Có” rủi ro là tích của K, 12.
Điều chỉnh giá trị vốn tự có dựa trên phần chênh lệch giữa giá trị tổn thất dự kiến (EL) và tổng dự phòng rủi ro tín dụng Bước 1: Để xác định tổng giá trị tổn thất dự kiến, Ngân hàng phải cộng dồn giá trị tổn thất dự kiến (được định nghĩa như tích số của mức tổn thất dự kiến EL và EAD) của tất cả các khoản cho vay, phải đòi thuộc các nhóm rủi ro khác nhau, trong đó: - Mức tổn thất dự kiến EL (%) của các khoản cho vay, phải đòi đối với doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng (không bao gồm các khoản cho vay đặc biệt), nhóm khác: Đối với các khoản cho vay bình thường, EL là tích số của PD và LGD. Đối với các khoản cho vay có vấn đề, ngân hàng phải sử dụng ước lượng tốt nhất về giá trị tổn thất dự kiến. - Giá trị tổn thất dự kiến EL của các khoản cho vay đặc biệt: Bằng tích số của 8%, hệ số rủi ro tương ứng của khoản vay và EAD. Bước 2: Xác định giá trị dự phòng rủi ro tín dụng bằng tổng của tất cả các loại dự phòng (ví dụ dự phòng cụ thể, xóa nợ một phần, dự phòng chung cho rủi ro quốc gia, dự phòng chung) cho các khoản cho vay, phải đòi.
Giá trị các khoản dự phòng cụ thể cho vốn góp cổ phần và các khoản chứng khoán hóa không được tính vào giá trị dự phòng rủi ro tín dụng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bước 3: So sánh giá trị tổn thất dự kiến EL và giá trị dự phòng rủi ro tín dụng, và điều chỉnh trực tiếp vào giá trị vốn tự có phần chênh lệch của hai giá trị này.3 Tác động của Basel II tới thực hành Quản lý rủi ro tín dụng Một câu hỏi thường được đặt ra bởi những người quan tâm đến quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại: Đâu là mối liên kết nào giữa Basel II và quản lý rủi ro tín dụng? Vì sao Basel II, mà xuất phát cơ bản là thay đổi khuôn khổ tính toán vốn tối thiểu, lại được đánh giá như một cột mốc mang tính cách mạng trên phạm vi toàn cầu về tài chính và là nền tảng cho công tác quản lý rủi ro ngân hàng nói chung và quản lý rủi ro tín dụng nói riêng? Theo đánh giá của nhiều nhà lãnh đạo ngân hàng trung ương và các chuyên gia tài chính ngân hàng quốc tế như Bernanke (2006) hay Large (2003), sở dĩ Basel II làm thay đổi căn bản tư duy quản lý rủi ro vì nó gắn kết, ràng buộc quy trình tính toán vốn tối thiểu với các phần việc chuẩn hóa quản lý rủi ro tín dụng, thị trường và tác nghiệp: Các ngân hàng chỉ có thể được thừa nhận đã tuân thủ đúng yêu cầu về xác định vốn tối thiểu nếu họ đã đáp ứng được toàn bộ các quy định, hướng dẫn, chuẩn mực đi kèm của Basel II về xác định, phân loại và quản lý rủi ro.