CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 (Luật số 47/2010/QH12) định nghĩa: “Cap tin dụng là việc thỏa thuận dé tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sw dụng một khoản tiễn theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hang và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”[6] Dựa trên cơ sở đó, tín dụng khách hàng cá nhân (KHCN) được hiểu là thỏa thuận nhượng lại tạm thời cho một cá nhân cụ thể quyền sử dụng nguồn vốn/tài sản từ ngân hàng thương mại. Nguồn vốn/tài sản này được cá nhân sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu đời song sinh hoạt hoặc tài trợ hoạt động sản xuất kinh doanh.
trong một thời gian xác định và phải hoàn trả nợ gốc và lãi vay khi đến hạn tat toán HDTD. Tín dụng ngân hàng cho các cá nhân đã tăng lên đáng ké trong nửa thé ky qua khi nhu cầu tiêu dùng tăng lên, cùng với đó là hành vi thường xuyên sử dụng thẻ tín dung trong thanh toán của các cá nhân cũng tăng lên (Alexandra Twin, 2019)[7]. Chủ yếu sản phẩm tín dụng mà NHTM cung cấp cho khách hàng cá nhân là cho vay. Mặc dù tín dụng ngân hang đa dạng sản phẩm (chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán.) nhưng chiếm quy mô và tỷ trong không đáng kê trong tín dụng khách hàng cá nhân.
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp này, hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân chính là hoạt động cho vay của ngân hàng đôi với cá nhân. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân[S] - — Thời gian cho vay linh hoạt: Các hợp đồng cho vay KHCN có thé là ngắn hạn (T < 12 tháng), trung hạn (12 thang < T < 60 tháng) hoặc dài hạn (T > 60 tháng) tùy vào nhu cầu và sản phẩm tín dụng. - Quy mô cho vay nhỏ, số lượng khách hàng lớn: Các khoản vay của KHCN có độ lớn tùy vào sản phẩm tín dụng khách hàng sử dụng. Quy mô cho vay tiêu dùng đơn thuần (vay mua sắm đồ dùng gia đình, thẻ tín dụng.) thường 5 nhỏ hơn quy mô của vay vốn mua ô tô, nhà đất hay sản xuất kinh doanh.
Nhìn chung, các khoản vay này đều có quy mô nhỏ hơn đối với tín dụng KHDN mặc dù lượng khách hàng là nhiều hơn đáng kể. Chi phí cho vay cao: Mac đù có một lượng khách hàng nhiều với lượng lớn thông tin nhưng quy mô cho vay lại nhỏ (so với KHDN) nên chi phí cho vay phải bỏ ra trên mỗi đồng vốn cho vay cũng cao hơn so với KHDN. Có tính nhạy cảm theo chu kỳ: Nhu cầu cho vay KHCN tăng lên trong thời kỳ kinh tế mở rộng, người tiêu dùng lạc quan về thu nhập cũng như sự phát triển của nền kinh tế, cho vay mở rộng. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, suy thoái, cá nhân và các hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng vào nên kinh tế, đặc biệt khi tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, từ đó tiêu dùng giảm, cho vay KHCN cũng giảm.
Lãi suất cho vay cao: Theo Chương trình phân tích chi phí chức năng (FCA) của FED, tín dụng KHCN có chỉ phí lớn nhất và rủi ro cao nhất trong danh mục cho vay của ngân hàng. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn cho vay KHDN nhiều lần trong cùng một hệ thống NHTM. Bên cạnh đó người tiêu dùng là những đối tượng kém nhạy cảm với lãi suất, họ có mối quan tâm đến số tiền phải trả hàng tháng hơn (mặc dù lãi suất ảnh hưởng đến số tiền đó). Do vậy, lãi suất cao không chỉ để bu đắp rủi ro lãi suất, rủi ro đến từ khách hang mà còn là công cụ kiếm lợi nhuận hiệu quả cho ngân hàng.
Rui ro cao: Nhiều khoản vay KHCN là tín chấp mà không cần tài sản bảo đảm như KHDN, trong khi đó lượng khách hàng lớn, các đặc điểm cá nhân của người vay theo thời gian có thé thay đổi như tuổi tác, sức khỏe, công việc,. làm cho khả năng thanh toán nợ thay đổi, gây nên rủi ro cho ngân hàng. Chất lượng thông tin khách hàng không cao: So với thông tin của một doanh nghiệp có mã số thuế, đăng ký kinh doanh, báo cáo thuế, báo cáo tài chính. đầy đủ, minh bạch và được quản lý chặt chẽ theo Pháp luật thì thông tin của một cá nhân lại khó kiểm chứng hơn nhiều.
Bên cạnh đó, van đề thông tin bất đối xứng khi người vay che giấu hoặc không trung thực cũng khiến cho việc thâm định thông tin tài chính KHCN gặp nhiều vấn đề và lỗ hồng. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Vì lượng lớn khách hàng với nhu cầu vay vốn đa dạng mà cho vay KHCN cũng có nhiều sản phẩm và hình thức cấp tín dụng khác nhau. Dựa trên đặc điểm sản phẩm cho vay và hình thức cấp tin dụng, ta có thé phân loại tín dụng KHCN theo 3 tiêu chí sau: 1. Phân theo mục đích sử dụng - Cho vay tiêu dùng: Sản phâm tín dụng KHCN tài trợ nhu cầu chỉ tiêu cá nhân của người vay hay nhu cầu sinh hoạt đời sống.
Mục đích vay tiêu dùng cụ thê thường gặp như vay mua ô tô, nhà đắt, phục vụ sửa chữa, tu sửa nhà ở, du học. - Cho vay san xuất kinh doanh: San phẩm tín dụng KHCN phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng trong đầu tư hoặc tự doanh. Mục đích vay SXKD cụ thê thường gặp như đầu tư tài chính (bất động sản, chứng khoán.), bổ sung vốn lưu động, đầu tư tài sản cô định. Phân theo hình thức cấp tin dụng Hiện nay hình thức cấp tín dụng tại NHTM rat đa dạng, riêng về cho vay KHCN, NHTM thường triển khai các hình thức cấp tín dụng sau: - Cho vay từng lan: hay còn được biết đến là vay theo món.
Đối với hình thức vay vốn từng lần, mỗi lần thực hiện giao dịch ngân hàng và người vay phải thực hiện đủ thủ tục vay và có riêng từng khế ước vay. - Cho vay hạn mức: là hình thức vay mà thỏa thuận giữa ngân hàng và người vay đề ra một mức dư nợ tối đa duy trì trong một thời kỳ xác định. Mức hạn mức này gồm: (1) Hạn mức quay vòng/tuần hoàn: trong thời gian duy trì han mức, người vay thực hiện vay nợ - trả nợ nhiều lần song dư nợ của khách hàng phải đảm bảo bé hơn hoặc băng hạn mức đã thỏa thuận; (2) Hạn mức không quang vòng - Cho vay thấu chỉ: là việc ngân hàng cho KHCN được tải trợ vốn/sử dụng vượt số tiền có trong tài khoản thanh toán của mình với một mức nhất định. Thời gian duy trì hạn mức không quá | năm.
Phan theo tài san bảo đảm Tài sản bảo đảm (TSBĐ) là một hoặc nhiều tài sản mà ngân hàng chấp nhận là nguồn bảo đảm cho việc gia hạn khoản vay của khách hàng. Nếu người vay vỡ nợ hoặc không còn khả năng thanh toán khoản vay nợ, ngân hàng có thể thu giữ TSBD và bán/thanh ly tài sản đó dé thu lại một phần hoặc toàn bộ khoản vay của khách hàng. TSBĐ có thể ở nhiều dạng khác nhau như quyền sử dụng đât, nhà ở, xe ô tô, sô tiêt kiệm. - Cho vay có TSBĐ cụ thé: Người vay có nguồn dam bảo trả nợ là TSBD thuộc quyền sở hữu của chính khách hàng hoặc bên thứ 3 liên quan.
TSBD này có thê độc lập hoặc hình thành từ nguồn vốn vay. - Cho vay tin chấp: Người vay không có TSBĐ cho khoản vay. Ngân hàng quyết định tài trợ vốn vay cho KH dựa trên uy tín, khả năng tài chính (thu nhập, lương.) của chính khách hàng. Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Tín dụng là một trong những hoạt động chính và là nguồn chủ yếu đem lại doanh thu cho NHTM.
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại phức tạp nhất và tiềm an nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động của NHTM. Rui ro tín dụng là loại rủi ro mà NHTM phải quan tâm đầu tiên và hàng dau (Joel Bessis, 2002)[9]. Khái niệm rủi ro tin dung Rui ro tin dụng được NHNN định nghĩa tại Khoản 2 Thông tư 08/2017/TT- NHNN như sau: “Rui ro tín dụng: là rui ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phan hoặc toàn bộ nghĩa vu trả nợ theo hợp đông hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoải "[10] Theo Joel Bessis: “Rui ro tin dung là rui ro mà khách hang võ nợ, có nghĩa là người vay không tuân thủ các điều khoản đối với hợp đông tín dung. Rui ro tín dụng gây ton that một phan hoặc toàn bộ số tiền của doi tác cho vay ”[9] Có rất nhiều quan điểm về rủi ro tín dụng, mà tóm lại, ta có thé định nghĩa đơn giản nhất về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là khả năng mà một người vay ngân hàng hoặc đối tác không đáp ứng một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ của minh theo các điều khoản đã thỏa thuận trong HDTD.
Phan loại rủi ro tín dụng[8] > Phân loại theo nguyên nhân Hình 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân Rủi ro nội tại Rủi ro danh mục Rủi ro tập trung Rủi ro tín dụng Rủi ro lựa chọn Rủi ro giao dịch Rủi ro bảo đảm Rủi ro nghiệp vụ (N,guon: Toàn tập Quan trị ngân hàng thương mai[8]) - Rui ro danh mục: là khả năng danh mục tín dụng của NHTM không đạt được mục tiêu tài chính. Nguyên nhân xuất phát từ những hạn chế, yêu kém trong quản lý danh mục các khoản cho vay của ngân hàng. Loại rủi ro này được chia thành 2 loại bao gồm: Tủi ro nỘi tai và rủi ro tập trung. + Rúi ro nội tại: là rủi ro liên quan tới đặc điểm của từng loại sản phẩm tín dung.
Rủi ro này xuất phát từ các yếu tố, những đặc tính riêng biệt nội tại (bên trong) của mỗi người vay hoặc ngành, lĩnh vực SXKD hoạt động. Đặc điểm hoạt động hay đặc điểm sử dụng tín dụng của khách hàng ảnh hưởng đến rủi ro này. + Rui to tập trung: nguyên nhân gây ra rủi ro đến từ việc không đa dang danh mục cho vay của NHTM khi khách hàng ngân hàng cho vay tập trung 9 vào một loại đối tượng mà có chung nhóm đặc điểm giống nhau.