phần mở đầu, kết luận và các phụ lục; khóa luận được chia thành 3 chương: Chƣơng 1. Lý luận chung về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Thương Mại: Chương này trình bày về khái niệm và đặc điểm của rủi ro tín dụng, phân loại, dấu hiệu nhận biết, nguyên nhân, hậu quả và việc xếp hạng tín dụng của ngân hàng. Tổng quan về khai phá dữ liệu và cây quyết định: Chương này trình bày về khái niệm, vai trò khai phá dữ liệu, các kỹ thuật khai phá dữ liệu, nhiệm vụ chính của khai phá dữ liệu, các phương pháp khai phá dữ liệu, ứng dụng của khai phá dữ liệu. Giới thiệu về cây quyết định, đánh giá cây quyết định trong lĩnh vực khai phá dữ liệu, các vấn đề trong khai phá dữ liệu sử dụng cây quyết định.
Sinh viên: Nguyễn Đình Tài Lớp: HTTTB-K12 Khóa luận tốt nghiệp 3 Khoa Hệ thống thông tin quản lý Chƣơng 3. Ứng dụng cây quyết định vào quản tri rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Xuân Mai: Chương này trình bày về việc thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng, qua đó sử dụng thuật toán C4.5 và công cụ WEKA để xây dựng cây quyết định với cơ sở dữ liệu thực tế, từ đó hỗ trợ ra quyết định cho vay. Sinh viên: Nguyễn Đình Tài Lớp: HTTTB-K12 Khóa luận tốt nghiệp 4 Khoa Hệ thống thông tin quản lý CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm và đặc điểm về rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) chứa đựng rất nhiều loại rủi ro: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản…Trong các loại đó thì rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, tập trung nhiều sự quan tâm của các ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng. Vấn đề nghiên cứu rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng (RRTD) là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, rủi ro xuất hiện khi khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng”. Trong kinh doanh ngân hàng, việc ngân hàng đương đầu với RRTD là điều không thể tránh khỏi. Về bản chất, RRTD là một tình huống mang tính xác suất, không mong muốn của cả hai phía - người cho vay và người vay, mà khi tình huống phát sinh thì sẽ dẫn đến kết cục là mục tiêu cuối cùng của hợp đồng tín dụng không đạt được. Sinh viên: Nguyễn Đình Tài Lớp: HTTTB-K12 Khóa luận tốt nghiệp 5 Khoa Hệ thống thông tin quản lý 1.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng RRTD mang tính tất yếu: RRTD luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng.
Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động ngân hàng. RRTD có thể dự báo trước hoặc không: RRTD xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên ngân hàng thường ở vào thế bị động và có ứng phó chậm trễ khi rủi ro xảy ra. RRTD có tính đa dạng và phức tạp: thể hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân xảy ra RRTD và diễn biến sự việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra.2 Phân loại rủi ro tín dụng 1.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo. Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động Sinh viên: Nguyễn Đình Tài Lớp: HTTTB-K12 Khóa luận tốt nghiệp 6 Khoa Hệ thống thông tin quản lý trong cùng một ngành, một lĩnh vực kinh tế, hoặc trong trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.2 Căn cứ vào khả năng trả nợ cho ngân hàng Trên cả hai khía cạnh là thời gian và số lượng thì rủi ro tín dụng gồm 2 loại: rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. Rủi ro đọng vốn: xảy ra khi khách hàng không thể trả nợ đúng hạn đã thỏa thuận với ngân hàng hay nói cách khác khách hàng đã trì hoãn trả nợ.
Điều này ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, cản trở và gây khó khăn cho việc chi trả người gửi tiền, tăng chi phí cho ngân hàng (chi phí cơ hội, chi phí giám sát, chi phí pháp lý và chi phí xử lý quá hạn nợ khó đòi). Rủi ro mất vốn: xảy ra khi khách hàng không trả được một phần hoặc toàn bộ nợ vay, làm cho dòng tiền của ngân hàng giảm sút đồng thời doanh thu bị chậm lại hoặc mất đi.3 Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng 1.1 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với khách hàng Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một dấu hiệu quan trọng gồm: Khó khăn trong thanh toán lương; Sự giao động của các tài khoản mà đặc biệt là sự giảm sút số dư tài khoản tiền gửi; Tăng mức sử dụng bình quân trong tài khoản; Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau; Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn; Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí. Các hoạt động cho vay: Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi; Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến; Mức độ vay thường xuyên gia tăng; Thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn. Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn; Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất.
Ví dụ: Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu; Thường xuyên sử dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả; Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu; Có biểu hiện giảm vốn điều lệ. Sinh viên: Nguyễn Đình Tài Lớp: HTTTB-K12 Khóa luận tốt nghiệp 7 Khoa Hệ thống thông tin quản lý 1.2 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phƣơng pháp quản lý của ngân hàng Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán. Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành. Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện: Được hoạch định bởi hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành không có kinh nghiệm; Thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông và chủ nợ; Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi; Thuyên chuyển nhân viên thường xuyên diễn ra; Hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành các doanh nghiệp lớn tham gia quá sâu vào vấn đề thường nhật.
Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người quản lý không thuộc gia đình, hoặc cho thành viên của gia đình chưa được đào tạo, huấn luyện đầy đủ đảm đương cương vị then chốt. Việc lập kế hoạch những người kề cận không đầy đủ. Có các chi phí quản lý bất hợp lý: chi quá mức các khoản để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền, ban giám đốc có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân. Có tranh chấp trong quá trình quản lý: bao gồm các mối quan hệ tranh chấp giữa Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành với các cổ đông khác, chính quyền địa phương, người cho vay, nhân viên, khách hàng.3 Nhóm các dấu hiệu liên quan tới các ƣu tiên trong kinh doanh Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: khách hàng bị ấn tượng bởi một khách hàng có tên tuổi mà sau này có thể trở nên lệ thuộc; Ban giám đốc cắt giảm lợi nhuận nhằm đạt được hợp đồng lớn.
Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: không đúng lúc hoặc bị ám ảnh bởi một sản phẩm mà không chú ý đến các yếu tố khác.