ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nhu cầu cung cấp thoại và các dịch vụ dữ liệu tốc độ cao của các nhà khai thác thông tin di động ngày càng tăng. Cùng lúc đó, họ cũng muốn hỗ trợ đƣợc nhiều thuê bao trên một trạm gốc để giảm chi phí đầu tƣ mạng lƣới. Và nhƣ vậy, các hệ thống thông tin vô tuyến đòi hỏi tốc độ dữ liệu và dung lƣợng ngày càng cao.
Công nghệ CDMA kết hợp với sử dụng dãy anten có thể giảm can nhiễu đáng kể nhờ kết hợp trải phổ với bộ lọc không gian và nó là một ứng viên đầy hứa hẹn cho nhu cầu đó. Chúng ta quan tâm xác suất nghẽn trong các hệ thống CDMA đa búp sóng sử dụng dãy anten với kỹ thuật Beamforming mà có tải lƣu lƣợng không đồng đều trong một cell. Sự phân bố lƣu lƣợng không đều có thể làm nghẽn lƣu lƣợng và làm tăng xác suất nghẽn trong vùng có tải lƣu lƣợng cao (hot-spot area). Với vấn đề xác suất nghẽn cao trong vùng hot-spot, nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất các phƣơng pháp khác nhau để thực hiện, nhƣ là: chia cell (cell splitting), vay mƣợn kênh (channel borrowing), chia sẻ kênh (channel sharing), bao phủ cell (cell overlaying), cell sectoring, sector hóa cell thích nghi (adaptive cell sectorization) và làm nghiêng anten (antenna tilt).
Ở đây sử dụng các phƣơng pháp giảm độ rộng búp sóng chính, ấn định lại búp sóng và tăng độ suy hao búp sóng phụ để giảm xác suất nghẽn và giảm can nhiễu. Để thực hiện việc giảm trên, chúng ta sẽ sử dụng kỹ thuật Beamforming với các giải thuật là: cực đại tỷ số tín hiệu trên tạp âm và can nhiễu (MaxSINR - Maximum Signal to Interference and Noise Ratio), cực tiểu trung bình bình phƣơng của sai số (MMSE - Minimum Mean Square Error) và cực tiểu hóa phƣơng sai của đáp ứng phi nhiễu (MVDR - Minimum Variance Distortionless Response). HVTH: Nguyễn Huỳnh Đức - 10140006 Trang 1 GVHD: TS. Đỗ Hồng Tuấn Luận văn thạc sĩ Với bộ lọc không gian, hay Beamforming, mỗi tín hiệu của ngƣời dùng đƣợc phát và nhận chỉ trên một hƣớng xác định, nhờ vậy nên giảm đƣợc can nhiễu trong hệ thống.
Thiết bị đƣợc sử dụng để thực hiện Beamforming đƣợc gọi là Beamformer. Beamforming đƣợc dùng cho cả phát và thu tín hiệu, tuy nhiên trong đề tài này chúng ta chỉ xem xét trƣờng hợp thu tín hiệu trong hệ thống thông tin di động CDMA sử dụng dãy anten ở trạm gốc (BS). Phát biểu bài toán Đề tài: “Ứng dụng kỹ thuật Beamforming để giảm can nhiễu và giảm xác suất nghẽn trong hệ thống thông tin di động CDMA.” Trong hệ thống thông tin di động, trạm gốc thực tế không những thu đƣợc tín hiệu mong muốn từ ngƣời dùng xác định mà còn thu tín hiệu của các nguồn phát khác cùng tần số tạo thành nhiễu đồng kênh. Và thực tế cũng gặp trƣờng hợp nghẽn cục bộ xảy ra chỉ trong một khu vực nào đó do trạm gốc phục vụ làm giảm chất lƣợng dịch vụ.
Ta thấy rằng nguồn tín hiệu mong muốn và các nguồn nhiễu đồng kênh có vị trí trong không gian khác nhau nên ta sẽ thực hiện bộ lọc không gian (spatial filter). Ngoài ra, sử dụng bộ lọc không gian chúng ta có thể thay đổi độ rộng búp sóng chính, thay đổi góc định hƣớng của búp sóng và có thể tăng độ suy hao búp sóng phụ. Bộ lọc không gian gồm mảng anten (antennas array), sau mảng anten là bộ hệ số w i (i 1,., N ) mà mỗi hệ số w i đƣợc nhân với tín hiệu nhận đƣợc tại anten thứ i. Tín hiệu ra sẽ là tổng của các tín hiệu ra tại mỗi anten (mô hình tƣơng tự nhƣ bộ lọc FIR).
Bộ lọc không gian nhƣ vậy còn gọi là bộ tạo búp sóng (beamformer). Bài toán sẽ sử dụng các giải thuật MaxSINR, MMSE và MVDR với nhiều điều kiện ràng buộc để tìm bộ hệ số w i (i 1,., N ) nhằm giảm can nhiễu trong khi vẫn giữ đƣợc tín hiệu mong muốn tại đầu ra. Ở đây, mảng anten mà chúng ta áp dụng là các anten đƣợc sắp xếp trên một vòng tròn hoặc trên các vòng tròn đồng tâm. HVTH: Nguyễn Huỳnh Đức - 10140006 Trang 2 GVHD: TS.
Đỗ Hồng Tuấn Luận văn thạc sĩ x0 (n) w0 x1 (n) + w1 + y ( n) + xM 1 (n) wM 1 Hình 1. Bộ tạo búp sóng (Beamformer) 1. Mục tiêu nghiên cứu: - Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến can nhiễu, xác suất nghẽn trong hệ thống thông tin di động CDMA. - Tìm hiểu kỹ thuật Beamforming, các giải thuật MaxSINR, MMSE và MVDR với lời giải cho trƣờng hợp nhiều điều kiện ràng buộc.
- Khảo sát mối quan hệ giữa mức suy hao của búp sóng phụ, độ rộng của búp sóng chính với xác suất nghẽn của cell. - Ứng dụng các giải thuật MaxSINR, MMSE và MVDR để giảm độ rộng búp sóng chính, ấn định lại búp sóng và tăng độ suy hao của búp sóng phụ. - Khảo sát các anten đồng nhất đƣợc sắp xếp trên một vòng tròn (UCA - Uniform Circular Array) và các cách sắp xếp các anten trên các vòng tròn đồng tâm nhƣ UCCA (Uniform Circular Centered Array), PUCA (Planar Uniform Circular Array) and PUHA (Planar Uniform Hexagonal Array). - Thực hiện chƣơng trình Matlab để mô phỏng các giải thuật trong các trƣờng hợp trên và thể hiện kết quả đạt đƣợc.
HVTH: Nguyễn Huỳnh Đức - 10140006 Trang 3 GVHD: TS. Đỗ Hồng Tuấn Luận văn thạc sĩ 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Kỹ thuật Beamforming. - Can nhiễu và xác suất nghẽn trong hệ thống thông tin di động CDMA.
- Các giải thuật MaxSINR, MMSE và MVDR để xác định vectơ trọng số tối ƣu cho mảng anten. - Mảng anten sắp xếp trên một vòng tròn hay trên các vòng tròn cách (có thêm một phần tử nữa ở tâm hoặc không). - Trạm gốc thu đƣợc tín hiệu từ các thuê bao đƣợc điều khiển công suất hoàn toàn, búp sóng chính của các búp sóng trong cell là không chồng lấp nhau. - Mô hình lƣu lƣợng của các thuê bao là theo mô hình Poisson độc lập.
Nội dung của luận văn Chúng ta sẽ trình bày nội dung luận văn này nhƣ sau: Đầu tiên, chúng ta sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của ba thuật toán sử dụng trong kỹ thuật Beamforming mà chúng ta áp dụng trong luận văn này đó là MaxSINR, MMSE và MVDR. Ba thuật toán này mục đích là tính toán các trọng số tối ƣu cho dãy anten theo các tiêu chuẩn: cực đại tỷ số tín hiệu trên can nhiễu (SIR), cực tiểu trung bình bình phƣơng của sai số và cực tiểu hóa phƣơng sai. Cách xác định hệ số dãy AF (Array Factor) cũng sẽ đƣợc đƣa ra cho các anten sắp xếp trên một vòng tròn (UCA) cũng nhƣ các trƣờng hợp các anten đƣợc sắp xếp theo các dạng khác nhau nhƣ UCCA, PUCA, PUHA. Đó là giảm nhỏ độ rộng của búp sóng chính và ấn định lại các búp sóng chính trong cell.
Và chúng ta cũng trình bày cách tính xác suất nghẽn của cell trong các trƣờng hợp này. Chúng ta sẽ khảo sát sự phụ thuộc của mức suy hao búp sóng phụ và độ rộng búp sóng chính vào số lƣợng anten. Chúng ta sẽ thấy rằng khi tăng số lƣợng anten thì sẽ HVTH: Nguyễn Huỳnh Đức - 10140006 Trang 4 GVHD: TS. Đỗ Hồng Tuấn Luận văn thạc sĩ tạo ra các búp sóng tốt (búp sóng có độ rộng nhỏ) , nhƣng bên cạnh đó mong muốn của chúng ta là càng giảm số lƣợng anten càng tốt.
Từ đó xác định khoảng số lƣợng anten mà ta sẽ quan tâm là từ 16 đến 20 anten. Tiếp đó sẽ đánh giá sự phụ thuộc của xác suất nghẽn vào mức suy hao búp sóng phụ và độ rộng búp sóng chính mà hai giá trị này nằm trong dải mà sẽ đƣợc tạo ra trong dải số lƣợng anten nói trên. Trong luận văn này sẽ tiến hành thực hiện tạo mẫu búp sóng cho các số lƣợng anten khác nhau, cũng nhƣ các cách sắp xếp khác nhau của số lƣợng anten là 17 và 19. Các dạng cấu hình anten mà chúng ta sẽ xét trong chƣơng này gồm: UCA(16), UCA(17), UCCA(1:16), PUCA(1:4:12), PUCA(1:8:8), PUCA(8:9), PUCA(1:8:4:4), UCA(18), UCA(19), UCCA(1:18), PUCA(1:6:12), PUCA(1:9:9), PUCA(9:10), PUHA(1:6:12) và UCA(20).
Với các kết quả đạt đƣợc, chúng ta đánh giá xác suất nghẽn của cell (tải lƣu lƣợng của cell) cho từng dạng cấu hình trên. Khảo sát xác suất nghẽn của cell có một búp sóng có tải lƣu lƣợng cao (hot-beam) sau khi ấn định lại các búp sóng cũng nhƣ so sánh xác suất nghẽn của cell trong các cấu hình biến đổi nhƣ UCCA, PUCA và PUHA so với cấu hình UCA. Và cuối cùng sẽ là phần kết luận và hƣớng phát triển. HVTH: Nguyễn Huỳnh Đức - 10140006 Trang 5 GVHD: TS.
Đỗ Hồng Tuấn Luận văn thạc sĩ CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Thông tin di động thế hệ tiếp theo không chỉ giới hạn trong dịch vụ thoại mà còn hỗ trợ các ứng dụng khác nhƣ truy cập Internet, xem video,…. Với việc các ứng dụng di động ngày càng phổ biến, phổ tần vô tuyến đã khan hiếm lại càng khan hiếm hơn. Các yêu cầu chính cho hệ thống thông tin di động thế hệ tiếp theo là [2]: - Cung cấp các tốc độ dữ liệu băng rộng. - Đạt đƣợc dung lƣợng cao để hỗ trợ việc tăng tải lƣu lƣợng trên phổ giới hạn.
- Cung cấp chất lƣợng dịch vụ cao với giá thành hợp lý. Để đạt đƣợc tốc độ dữ liệu và dung lƣợng cao, nó cần giảm can nhiễu (interference) và tạp âm (noise) của hệ thống di động tế bào, trong khi đó cần tăng công suất tín hiệu mong muốn. Với phổ tần giới hạn nhƣ hiện nay, để đạt đƣợc mục đích này là khó bởi các can nhiễu đồng kênh và kênh kế cận. Vì vậy, các kỹ thuật tiên tiến cần phải đƣợc sử dụng trong thông tin vô tuyến di động thế hệ tiếp theo.
Trong các thập niên gần đây, kỹ thuật Beamforming trong anten sử dụng cho thông tin di động đã nhận đƣợc sự quan tâm lớn. Beamforming là một công nghệ hứa hẹn bởi vì nó làm giảm các can nhiễu và tạp âm để làm tăng tỷ số tín hiệu trên can nhiễu và tạp âm (SINR). Nhờ đó các nhà cung cấp dịch vụ di động có thể cung cấp các dịch vụ dữ liệu tốc độ cao với giá thành hợp lý bằng việc hỗ trợ một số lƣợng lớn thuê bao trên băng tần giới hạn hiện có. Beamforming là một kỹ thuật xử lý tín hiệu đƣợc sử dụng trong dãy anten để thu hoặc phát tín hiệu có tính định hƣớng.
Đặc tính không gian này đƣợc thực hiện bằng cách sử dụng các mẫu búp sóng (beampattern) thu/phát cố định hoặc thích nghi.